Chương 1: Một số vấn đề chung về thế chấp quyền đòi nợ tại Ngân hàng thương mại. - Chương II: Pháp luật về thế chấp quyền đòi nợ và thực tiễn thế chấp quyền đòi nợ tại Ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay. - Chương III: Một số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về thế chấp quyền đòi nợ tại các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Kết luận Danh mục tài liệu tham khảo.
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẾ CHẤP QUYỀN ĐÒI NỢ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Ngân hàng thƣơng mại và hoạt động của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được. Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng thương mại đã tạo lợi ích cho người gửi tiền, người vay tiền và cho cả ngân hàng thông qua chênh lệch lãi suất.
Tại các nước khác nhau trên thế giới, cách hiểu thuật ngữ ngân hàng thương mại cũng có sự khác biệt, ví dụ: Tại Mỹ, Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: "Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính". Tại Việt Nam, trước khi Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 (Sau đây viết tắt là “Luật các TCTD năm 2010”) ra đời cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ ngân hàng thương mại. Trong đó, đa số các chuyên gia kinh tế, các nhà đầu tư cho rằng “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật các TCTD năm 2010 thì: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Luật các TCTD năm 2010 thì: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã”. Như vậy, căn cứ các quy định pháp luật nêu trên, thì Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng và là loại hình ngân hàng có phạm vi hoạt động rộng nhất trong số các loại hình ngân hàng, vì nó không chỉ được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng mà còn được thực hiện “các hoạt động kinh doanh khác” theo quy định của Luật các TCTD năm 2010.2 Hoạt động của Ngân hàng thương mại Như đã nêu tại mục 1.1, Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng có phạm vi hoạt động rộng nhất, theo đó, hoạt động của Ngân hàng thương mại bao gồm hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác được phép theo quy định của Luật các TCTD năm 2010.1 Hoạt động ngân hàng của Ngân hàng thương mại Khoản 7 Điều 20 Luật các TCTD năm 1997 được sửa đổi bổ sung theo Luật số 20/2004/QH11 quy định: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Theo quy định tại Khoản 12 Điều 4 Luật các TCTD năm 2010 thì: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com a) Nhận tiền gửi; b) Cấp tín dụng; c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Như vậy, so với Luật các TCTD cũ, khái niệm hoạt động ngân hàng trong Luật các TCTD năm 2010 đã có sự thay đổi lớn về mặt nội hàm, cụ thể: hoạt động ngân hàng bao gồm một trong ba hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản thay vì phải thực hiện đồng thời cả ba hoạt động trên. Sự thay đổi này là phù hợp với tình hình kinh tế của Việt Nam và phù hợp với quy định của các nước trên thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư và thể hiện sự hội nhập của pháp luật Việt Nam với pháp luật thế giới. a) Hoạt động nhận tiền gửi Khoản 13 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 quy định: “Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận”.
Hoạt động nhận tiền gửi là hoạt động đặc thù của loại hình tổ chức tín dụng là ngân hàng. Theo đó, ngân hàng có thể nhận tiền gửi của cả tổ chức và cá nhân, nhận tiền gửi dưới hình thức tiền gửi có kỳ hạn hoặc không kỳ hạn tùy thuộc vào thỏa thuận giữa ngân hàng và người gửi tiền. Để kiểm soát hoạt động nhận tiền gửi của các ngân hàng, đảm bảo sự phát triển an toàn của hoạt động ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với vai trò là Ngân hàng Trung ương đã có những biện pháp nhất định và một trong các biện pháp hữu hiệu đó là quy định trần lãi suất gửi tiền. Biện pháp này của Ngân hàng Nhà nước khi mới đưa vào áp dụng đã gây ra không ít khó khăn cho các Ngân hàng thương mại.
Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện, rõ ràng biện pháp này đã có những tác động tích cực đến hoạt động ngân hàng nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung, bằng chứng là hoạt động ngân hàng diễn ra một cách minh bạch hơn, lãi suất cho vay giảm mạnh tạo cơ hội cho các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn từ đó thúc đẩy hoạt động đầu tư. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com b) Hoạt động cấp tín dụng Khoản 14 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 quy định: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. So với quy định tại Luật các TCTD năm 1997 (được sửa đổi bổ sung theo Luật số 20/2004/QH11), khái niệm cấp tín dụng được mở rộng hơn, theo đó bao gồm cả nghiệp vụ bao thanh toán. Tuy vậy, đến Luật các TCTD năm 2010, hoạt động bao thanh toán vẫn còn là một nghiệp vụ khá mới mẻ với các ngân hàng thương mại.
Trong số các nghiệp vụ cấp tín dụng, cho vay là nghiệp vụ cấp tín dụng cơ bản, phổ biến, có ý nghĩa sống còn đối với các Ngân hàng thương mại và được các Ngân hàng thương mại chú trọng nhất. Theo thống kê của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), trong năm 2014, tỷ lệ dư nợ cho vay chiếm tới 42,85% tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại. Khoản 16 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 quy định: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Cho vay bao gồm các hình thức cho vay ngắn hạn (thời hạn cho vay đến 12 tháng), cho vay trung hạn (thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng), cho vay dài hạn (thời hạn cho vay trên 60 tháng).
Hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng được điều chỉnh bởi Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN. Quy chế này đã được sửa đổi, bổ sung 2 lần bằng Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN và Quyết định số 783/2005/QĐ-NHNN và đến nay các văn bản này vẫn đang có hiệu lực thi hành. Sau một thời gian dài áp dụng, Quy chế cho vay hiện hành đã bộc lộ những điểm bất cập và không còn phù hợp với tình hình thực tế. Trong điều kiện hoạt động cấp tín dụng nói chung và cho vay nói riêng có nhiều diễn biến phức tạp như hiện nay, để đáp ứng tình hình thực tế, Ngân hàng 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhà nước đang dự thảo văn bản thay thế cho Quy chế cho vay hiện hành, nhằm góp phần giải quyết được các vướng mắc mà hoạt động tín dụng hiện nay đang gặp phải.
Ngoài hình thức cho vay, bảo lãnh ngân hàng cũng là một trong các hình thức cấp tín dụng truyền thống. Khoản 18 Điều 4 Luật Các Tổ chức tín dụng 2010 quy định: “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận”.