Luận văn Hoàng Thị Hạnh: Thơ trẻ Bắc Kạn qua sáng tác 3 nhà thơ tiêu biểu

Luận văn thạc sĩ phân tích thơ trẻ Bắc Kạn qua sáng tác Nông Thị Tô Hường, Hoàng Chiến Thắng, Phùng Thị Hương Ly. Khám phá đặc trưng và đóng góp văn học địa phương.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

110
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

prefix.1. Lí do chọn đề tài

prefix.2. Lịch sử vấn đề

prefix.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

prefix.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

prefix.5. Phương pháp nghiên cứu

prefix.6. Đóng góp của luận văn

prefix.7. Cấu trúc của luận văn

1. Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Một số vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài:

1.2. Khái niệm "Thơ trẻ"

1.3. Khái niệm văn học địa phương

1.4. Vị trí và đặc trưng của văn học địa phương

1.5. Khái quát văn học địa phương Bắc Kạn

1.6. Vài nét về điều kiện địa lý, xã hội tỉnh Bắc Kạn

1.7. Quá trình hình thành và phát triển của văn học Bắc Kạn

1.8. Thành tựu và hạn chế của các thể loại

1.9. Chân dung ba nhà thơ: Nông Thị Tô Hường, Hoàng Chiến Thắng, Phùng Thị Hương Ly

1.9.1. Nông Thị Tô Hường

1.9.2. Hoàng Chiến Thắng

1.9.3. Phùng Thị Hương Ly

1.10. Tiểu kết chương 1

2. Chương 2: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG THƠ NÔNG THỊ TÔ HƯỜNG, HOÀNG CHIẾN THẮNG VÀ PHÙNG THỊ HƯƠNG LY

2.1. Hình ảnh quê hương tươi đẹp, thân thương

2.1.1. Quê hương gắn với những kí ức tuổi thơ

2.1.2. Quê hương mang vẻ đẹp bình dị thân thương đang thay đổi từng ngày

2.1.3. Quê hương còn nhiều khó khăn, vất vả

2.2. Hình ảnh con người mang vẻ đẹp riêng

2.2.1. Con người chăm chỉ, vươn lên trong khó khăn, đối diện với vất vả để mưu sinh

2.2.2. Con người với những cung bậc của tình yêu

2.2.3. Con người trong cuộc sống đầy biến động

2.3. Những phong tục tập quán, nếp sống của người dân vùng núi Việt Bắc

2.3.1. Những phong tục tập quán trong lễ, tết, hội hè

2.3.2. Những nếp sống, tập quán sinh hoạt hàng ngày

2.4. Tiểu kết chương 2

3. Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT THƠ NÔNG THỊ TÔ HƯỜNG, HOÀNG CHIẾN THẮNG VÀ PHÙNG THỊ HƯƠNG LY

3.1. Thể thơ tự do

3.2. Trường ca

3.3. Ngôn ngữ nghệ thuật

3.3.1. Ngôn ngữ chân thực, giản dị

3.3.2. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhạc điệu

3.3.3. Ngôn ngữ mang màu sắc văn hoá Tày

3.4. Một số biểu tượng tiêu biểu

3.4.1. Biểu tượng cây lúa

3.4.2. Biểu tượng bếp lửa

3.5. Giọng điệu tự hào, ngợi ca khi viết về quê hương

3.6. Giọng trữ tình, tha thiết, nồng nàn khi viết về tình yêu

3.7. Giọng suy tư, triết lý khi viết về hiện thực cuộc sống

3.8. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Thơ Trẻ Bắc Kạn Tiềm Năng Bản Sắc Riêng 55 Ký Tự

Thơ trẻ Bắc Kạn đang dần khẳng định vị thế trong nền văn học đương đại Việt Nam. Đây là một bộ phận quan trọng của văn học dân tộc thiểu số, góp phần tạo nên sự đa dạng và phong phú cho nền văn học nước nhà. Sự xuất hiện của đội ngũ nhà thơ trẻ Bắc Kạn đã mang đến một luồng gió mới, với những sáng tác đầy sức sáng tạo và mang đậm bản sắc văn hóa địa phương. Tuy nhiên, để thơ trẻ Bắc Kạn thực sự phát triển và có chỗ đứng vững chắc, cần có sự quan tâm, đầu tư và định hướng đúng đắn. Các tác giả trẻ tỏ ra nhạy bén với cái mới, không hề thua kém trước sự phát triển rầm rộ của thơ ca đương đại và những xu hướng mới du nhập với trình độ ngoại ngữ, sự đào tạo bài bản và quan trọng hơn nữa là ý thức dẫn thân và không ngại đổi mới. Để làm nên diện mạo của văn học dân tộc thiểu số chính là sự góp mặt hết sức qua trọng của văn học địa phương. Các nhà văn, nhà thơ trẻ dồi dào sức sáng tạo đã mang đến chất men say tươi mới cho văn học thiểu số. Rất có thể họ sẽ đại diện cho cả một thế hệ những người viết trẻ làm thay đổi diện mạo của văn học dân tộc thiểu số. Điều này được thể hiện trong những tập thơ đã xuất bản của họ trên thi đàn.

1.1. Khái Niệm Đặc Điểm Thơ Trẻ Bắc Kạn Trong Bối Cảnh Hiện Nay

Thơ trẻ không chỉ đơn thuần là thơ của những người trẻ tuổi mà còn là thơ mang hơi thở của thời đại, thể hiện cách nhìn, cách cảm mới mẻ về cuộc sống. Các nhà thơ trẻ Bắc Kạn, như Nông Thị Tô Hường, Hoàng Chiến Thắng và Phùng Thị Hương Ly, đã mang đến cho thơ Bắc Kạn một diện mạo mới, với những sáng tác thể hiện sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại. Họ đã đóng góp cho dòng chảy thơ dân tộc thiểu số hiện đại một tiếng nói trẻ trung, sôi nổi, đầy nhiệt huyết và một góc nhìn trẻ trung, hiện đại. Những nhà thơ dân tộc thiểu số này đã có cách nhìn, cách cảm đời sống bằng con mắt trẻ trung của những tri thức trẻ miền núi. Chính vì vậy, thơ của họ có nét mới mẻ, thể hiện một góc nhìn riêng của lớp thi sĩ thuộc thế hệ thứ ba trong dòng chảy văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại. Không chỉ vậy, thơ họ còn tiêu biểu cho tiếng nói của các tác giả trẻ trong văn học địa phương Bắc Kạn.

1.2. Vai Trò Của Văn Học Địa Phương Trong Phát Triển Văn Hóa Bắc Kạn

Văn học địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của Bắc Kạn. Các tác phẩm văn học địa phương phản ánh đời sống tinh thần, tình cảm của người dân miền núi, góp phần bảo vệ phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số. Mỗi tác phẩm sẽ mang theo những tên đất, tên làng, những hình ảnh thiên nhiên vùng miền rất đỗi thân quen đối với bạn đọc tại địa phương. Mỗi nhà văn, nhà thơ bao giờ cũng thuộc về một dân tộc, một nền văn hoá nhất định.Vì thế, họ sẽ truyền tải trong tác phẩm của mình những truyền thống văn hóa của dân tộc.

II. Thách Thức Cơ Hội Phát Triển Thơ Trẻ Tại Bắc Kạn 58 Ký Tự

Mặc dù có nhiều tiềm năng, thơ trẻ Bắc Kạn vẫn còn đối mặt với không ít thách thức. Sự thiếu hụt về nguồn lực, sự cạnh tranh gay gắt từ các dòng thơ đương đại khác, và sự hạn chế trong việc tiếp cận với công chúng là những vấn đề cần được giải quyết. Tuy nhiên, với sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, sự hỗ trợ của các tổ chức văn học nghệ thuật, và sự nỗ lực của chính các nhà thơ trẻ, thơ trẻ Bắc Kạn hoàn toàn có thể vượt qua những khó khăn và vươn lên mạnh mẽ. Các nhà văn của giai đoạn văn học trước vẫn đang ở thời kì sung sức sáng tác và sáng tác họ có cả đề tài cũ nhưng họ đã khám phá, có cách thể hiện mới, đồng thời hướng tới khai thác con người cá nhân, đặc biệt là đề tài tình yêu. Bên cạnh đó, xuất hiện thêm những tác giả mới. Các tác giả tiêu biểu thời kì này có thể kể đến: Đặng Phúc Lường, Nguyễn Văn Lợi, Triệu Sinh, Hoàng Thị Điềm, Lường Văn Thắng, Hạ Văn Hử, Vũ Cẩm Linh… Sự tham gia của nhiều cây bút ở nhiều lứa tuổi khác nhau đã khiến cho văn học Bắc Kạn hiện nay có nội dung vô cùng phong phú ở nhiều thể loại khác nhau, làm cho bức tranh văn học Bắc Kạn đa màu, có sự kết hợp cái xưa- cái nay, truyền thống và hiện đại.

2.1. Hạn Chế Về Nguồn Lực Khả Năng Tiếp Cận Công Chúng Của Thơ Trẻ

Kinh phí hạn hẹp, thiếu sự đầu tư bài bản cho việc quảng bá và xuất bản tác phẩm là một trong những rào cản lớn đối với sự phát triển của thơ trẻ Bắc Kạn. Bên cạnh đó, sự thiếu hụt các kênh truyền thông chuyên nghiệp để giới thiệu thơ đến công chúng cũng là một vấn đề nan giải. Nhiều vấn đề có tính thời sự trong đời sống của đồng bào miền núi chưa được phản ánh kịp thời. Việc sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc chưa được chú trọng trong sáng tác. Thơ của các tác giả Bắc Kạn, đặc biệt là những thế hệ đầu tiên còn nặng về thơ tuyên truyền, thơ chủ yếu thiên về kể và tả, chưa chú ý nhiều đến yếu tố nghệ thuật.

2.2. Cần Tạo Điều Kiện Để Thơ Trẻ Bắc Kạn Hòa Nhập Với Thơ Đương Đại

Để thơ trẻ Bắc Kạn không bị tụt hậu so với các dòng thơ đương đại khác, cần tạo điều kiện cho các nhà thơ trẻ được tiếp cận với những xu hướng mới, được giao lưu học hỏi kinh nghiệm từ các nhà thơ khác, và được tham gia vào các hoạt động văn học nghệ thuật trong và ngoài nước.

III. Phân Tích Nội Dung Quê Hương Con Người Trong Thơ 53 Ký Tự

Chủ đề quê hương và con người là hai mảng nội dung quan trọng trong thơ trẻ Bắc Kạn. Các nhà thơ trẻ đã thể hiện tình yêu sâu sắc đối với quê hương, với những cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp và những nét văn hóa độc đáo. Đồng thời, họ cũng khắc họa chân thực cuộc sống và tâm tư tình cảm của người dân miền núi, với những khó khăn, vất vả, nhưng cũng đầy nghị lực và niềm tin vào tương lai. Thơ của các nhà thơ trẻ Bắc Kạn được nhìn phóng phú, rộng hơn; không chỉ dừng lại ở cảnh núi rừng Việt Bắc mà có cả hình ảnh quê hương từ đồng bằng, thành phố đến cao nguyên, những địa danh vượt ra khỏi phạm vị địa phương.

3.1. Khắc Họa Vẻ Đẹp Quê Hương Bản Sắc Văn Hóa Trong Thơ

Hình ảnh quê hương miền núi hiện lên trong thơ trẻ Bắc Kạn với những con suối uốn lượn, những thửa ruộng bậc thang, những cánh rừng xanh mướt và những ngôi nhà sàn đơn sơ. Các nhà thơ trẻ đã sử dụng ngôn ngữ thơ tinh tế để miêu tả những cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp và những nét văn hóa độc đáo của quê hương, như lễ hội lồng tồng, hát then, hát lượn và phong tục cưới hỏi. Những hình ảnh đó đều cho thấy sự am hiểu của tác giả đối với văn hóa, phong tục và những nét độc đáo của các dân tộc khác. Đọc thơ Hương Ly, độc giả thấy thật gần gũi bởi những hình ảnh dung dị đời thường.

3.2. Tái Hiện Cuộc Sống Tình Cảm Của Người Dân Miền Núi

Thơ trẻ Bắc Kạn không né tránh những khó khăn, vất vả trong cuộc sống của người dân miền núi. Các nhà thơ đã phản ánh chân thực những thiếu thốn về vật chất, những thách thức về thiên tai, và những hủ tục lạc hậu. Tuy nhiên, vượt lên trên tất cả, họ vẫn ca ngợi nghị lực và niềm tin của người dân, những con người luôn cố gắng vươn lên để xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn. Các nhà thơ trẻ gửi vào trong thơ của mình những khó khăn mà quê hương phải đối mặt. Có lẽ, những bạn trẻ ngày nay không biết khái niệm mùa giáp hạt.

IV. Nghệ Thuật Thơ Trẻ Ngôn Ngữ Hình Ảnh Giọng Điệu 57 Ký Tự

Bên cạnh nội dung, nghệ thuật cũng là một yếu tố quan trọng tạo nên sức hấp dẫn của thơ trẻ Bắc Kạn. Các nhà thơ trẻ đã có nhiều tìm tòi, sáng tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ, xây dựng hình ảnh và tạo dựng giọng điệu riêng. Họ đã mang đến cho thơ Bắc Kạn một phong cách mới mẻ, hiện đại, nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa truyền thống. Đọc thơ, độc giả sẽ thấy rất gần gũi, những gì trong thơ đều gắn liền với cuộc sống đời thường giản dị của con người vùng núi. Nhưng bằng sự sáng tạo, sử dụng lối viết hiện đại đã miêu tả những hình ảnh quen thuộc đó ở một khía cạnh khác. Những bài thơ của Hương Ly đưa người đọc đến nhiều cảm xúc khác nhau, khi thì bắt gặp tuổi thơ mình trong ấy, khi thì nắm được cảm xúc khắc khoải mong đợi, nhưng trên hết luôn có những bài học nhân văn sâu sắc, tình cảm với quê hương đất nước của tác giả.

4.1. Ngôn Ngữ Giản Dị Gần Gũi Sử Dụng Nhiều Yếu Tố Địa Phương

Ngôn ngữ trong thơ trẻ Bắc Kạn thường giản dị, gần gũi với đời sống hàng ngày của người dân. Các nhà thơ sử dụng nhiều từ ngữ địa phương, những hình ảnh quen thuộc của vùng núi để tạo nên một không gian thơ đặc trưng, đậm bản sắc. Ngôn ngữ trong thơ của các tác giả trẻ Bắc Kạn mang yếu tố miêu tả, tái hiện lại các cuộc sống thường ngày của những người dân vùng cao, giúp bạn đọc cảm nhận được những điều gần gũi nhất. Chính vì vậy, thơ của họ trở nên rất gần gũi, dễ đi vào lòng người đọc.

4.2. Hình Ảnh Sáng Tạo Giọng Điệu Trữ Tình Đậm Chất Suy Tư

Các nhà thơ trẻ đã sử dụng nhiều hình ảnh sáng tạo, độc đáo để thể hiện cảm xúc và suy nghĩ của mình. Giọng điệu thơ thường trữ tình, sâu lắng, thể hiện sự trăn trở về cuộc sống, về con người và về tương lai của quê hương. Các con vật trong thơ Tô Hường hầu hết ẩn dụ để nói về con người: về những đứa trẻ ngoan như chú sóc biết giúp mẹ (Hưa mé), ông Cú bắt chuột (Pắt nu), mẹ con cua bừa ruộng (Phưa nà), bầy cò học cấy lúa(Nẳm nà).

V. Ba Nhà Thơ Tiêu Biểu Nông Thị Tô Hường Hoàng Chiến Thắng Ly 59 Ký Tự

Nông Thị Tô Hường, Hoàng Chiến Thắng và Phùng Thị Hương Ly là ba nhà thơ trẻ tiêu biểu của thơ Bắc Kạn. Mỗi người có một phong cách riêng, nhưng đều có chung tình yêu sâu sắc đối với quê hương và khát vọng mang đến cho thơ Bắc Kạn một diện mạo mới. Họ có hoàn cảnh khác nhau, nhưng họ giống nhau ở niềm đam mê sáng tác. Những sáng tác của họ đa dạng, phong phú, thể nghiệm ở nhiều thể loại khác nhau. Tuy chưa có tác phẩm mang tầm ảnh hưởng ở phạm vi rộng, nhưng những sáng tác của họ cũng là những thành công bước đầu, được độc giả Bắc Kạn đón nhận.

5.1. Phong Cách Thơ Độc Đáo Đóng Góp Của Nông Thị Tô Hường

Thơ của Nông Thị Tô Hường thuần phác, gần gũi mà ấn tượng. Với một vốn văn hóa khá phong phú và sáng tác được bằng hai thứ tiếng (Tày và Việt), chị đã mang đến cho thế giới thơ ca những vẻ đẹp riêng về miền núi với những phong tục tập quán đậm chất truyền thống, đồng thời cũng thể hiện những trăn trở, suy tư của một tấm lòng đầy trắc ẩn về con người, về số phận bất hạnh, nghiệt ngã trong cuộc sống hiện đại. Các tác phẩm của chị đã góp phần làm phong phú đời sống thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam.

5.2. Hoàng Chiến Thắng Sự Kết Hợp Giữa Thơ Nhạc Họa Văn Xuôi

Hoàng Chiến Thắng là cây bút đa tài: anh làm thơ, viết văn, viết báo, soạn nhạc. Chất nhạc, chất họa đã hòa quyện cùng với chất thơ, chất văn trong sáng tác của anh. Bởi vậy, thơ văn của Hoàng Chiến Thắng rất dễ đi vào lòng người, được nhiều độc giả miền núi đón nhận. Thắng đã gây ấn tượng với bạn đọc về hình ảnh của người đàn ông thương vợ, vì vợ sẵn sàng làm bất cứ việc gì: “Thương mình ta vào rừng bắc máng/ Vác súng lên nương/ Ta kiếm cho mình tấm áo/ Ta mang cho mình bồ gạo/ Chiều với tới trăng/ Ta về”.

5.3. Phùng Thị Hương Ly Góc Nhìn Mới Mẻ Hiện Đại Về Cuộc Sống

Dù tuổi còn trẻ, Phùng Thị Hương Ly đã gặt hái được nhiều thành công trong lĩnh vực sáng tác của mình. Chị không chỉ được biết đến với tư cách là một nhà thơ, mà còn là một cây bút thành công với các thể loại truyện ngắn, tùy bút, bút ký. Với cách nói dân giã, đậm cách nói của người miền núi, nhiều bạn đọc thấy hình ảnh tuổi thơ mình lẽo đẽo theo cha từ nương rẫy về nhà, nhưng hơn hết thảy là tình thương đối với người cha vất vả một đời úp mặt trên con dốc cao.

VI. Kết Luận Tiềm Năng Phát Triển Hướng Đi Của Thơ Trẻ 51 Ký Tự

Thơ trẻ Bắc Kạn có nhiều tiềm năng để phát triển và đóng góp vào nền văn học nước nhà. Để đạt được điều đó, cần có sự quan tâm, đầu tư và định hướng đúng đắn, cũng như sự nỗ lực không ngừng của các nhà thơ trẻ. Với tình yêu quê hương và khát vọng sáng tạo, chắc chắn thơ trẻ Bắc Kạn sẽ ngày càng khẳng định được vị thế của mình. Các nhà thơ trẻ vẫn đối mặt với những khó khăn thử thách đó, vẫn tiếp tục hành trình của mình theo xu hướng kết hợp hiện đại với bản sắc văn hóa, đi đúng quỹ đạo văn hóa của dân tộc mình, đi vào văn hóa tinh thần và triết - mỹ của tộc người mình, văn hóa vùng mình và đi đến tận cùng nó, thấu đáo về nó để hiện đại nhưng vẫn bản sắc, bản sắc mà vẫn hiện đại trong thơ.

6.1. Cần Đầu Tư Hỗ Trợ Để Thơ Trẻ Bắc Kạn Phát Triển Bền Vững

Nhà nước và các tổ chức văn học nghệ thuật cần có những chính sách hỗ trợ thiết thực cho thơ trẻ Bắc Kạn, như cấp học bổng cho các nhà thơ trẻ tham gia các khóa đào tạo, hỗ trợ kinh phí xuất bản tác phẩm và tổ chức các hoạt động quảng bá thơ. Hơn nữa, bản thân tác giả cũng cần phải không ngừng học hỏi, bồi đắp kiến thức cũng như khả năng viết lách của bản thân.

6.2. Hướng Đi Phát Huy Bản Sắc Hội Nhập Tiếp Cận Công Chúng

Các nhà thơ trẻ cần ý thức được tầm quan trọng của việc phát huy bản sắc văn hóa trong sáng tác, đồng thời tích cực hội nhập với các dòng thơ đương đại khác. Quan trọng hơn, cần tìm ra những phương thức hiệu quả để đưa thơ đến gần hơn với công chúng, đặc biệt là giới trẻ. Các tác giả trẻ Bắc Kạn cần có sự kết hợp giữa sáng tác truyền thống và hiện đại để mang đến nhiều độc giả hơn.

02/10/2025
Luận văn thạc sĩ thơ trẻ bắc kạn qua sáng tác của các nhà thơ nông thị tô hường hoàng chiến thắng và phùng thị hương ly

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Một số vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài. Chương 2: Một số phương diện nội dung thơ Nông Thị Tô Hường, Hoàng Chiến Thắng, Phùng Thị Hương Ly. Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật thơ Nông Thị Tô Hường, Hoàng Chiến Thắng, Phùng Thị Hương Ly 6 download by : skknchat@gmail.com NỘI DUNG Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài 1.

Khái niệm thơ trẻ Thơ trẻ có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau, tuỳ theo tiêu chí chúng ta có thể có những cách hiểu khác nhau về thơ trẻ. Trong phạm vi đề tài này chúng tôi dùng khái niệm thơ trẻ để chỉ những tác giả có tuổi đời trẻ (chủ yếu trên dưới ba mươi khi công bố các tập thơ của mình) và đặc biệt có cách nhìn, cách cảm, cách tư duy mới mẻ, hiện đại và trẻ trung. Điều này được thể hiện trong những tập thơ đã xuất bản của họ trên thi đàn. Ba nhà thơ chúng tôi nghiên cứu là: Nông Thị Tô Hường, Hoàng Chiến Thắng và Phùng Thị Hương Ly đều là những nhà thơ trẻ khi tác phẩm của họ được xuất bản khi họ ở độ tuổi trên dưới ba mươi.

Các tập thơ mà chúng tôi sử dụng làm đối tượng nghiên cứu của ba tác giả này đều xuất bản khi họ còn rất trẻ. Đó là: Quả Nhung - 2006, Tềnh pù (Trên núi) - 2007 -Thơ song ngữ Tày- Việt, Vạt sáng trăng rằm (thơ), Hằn sâu trên đá (trường ca) - 2011, của Nông Thị Tô Hường; Đi qua tôi thật chậm (thơ) - 2013 của Phùng Thị Hương Ly; Gọi ngày xuống núi (thơ) - 2008, Mỉnh hai (Vía trăng) - 2019 của Hoàng Chiến Thắng. Họ đã đóng góp cho dòng chảy thơ dân tộc thiểu số hiện đại một tiếng nói trẻ trung, sôi nổi, đầy nhiệt huyết và một góc nhìn trẻ trung, hiện đại. Những nhà thơ dân tộc thiểu số này đã có cách nhìn, cách cảm đời sống bằng con mắt trẻ trung của những tri thức trẻ miền núi.

Chính vì vậy, thơ của họ có nét mới mẻ, thể hiện một góc nhìn riêng của lớp thi sĩ thuộc thế hệ thứ ba trong dòng chảy văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại. Không chỉ vậy, thơ họ còn tiêu biểu cho tiếng nói của các tác giả trẻ trong văn học địa phương Bắc Kạn. Văn học địa phương Bắc Kạn đã có một bề dầy truyền thống từ những thế hệ đi tiên phong như: Nông Quốc Chấn, Nông Viết Toại, tiếp đến là thế hệ thứ hai như: Dương Thuấn, Dương Khâu Luông và thế hệ thứ ba chính là những tác giả trẻ: Nông Thị Tô Hường, Hoàng Chiến Thắng và Phùng Thị 7 download by : skknchat@gmail.com Hương Ly. Họ đã tiếp nối và phát triển thơ Bắc Kạn đạt được những thành tựu mới đáng ghi nhận.

Khái niệm văn học địa phương Khái niệm văn học địa phương cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất trong giới nghiên cứu. Theo tác giả Bùi Thanh Truyền: Văn học địa phương là các sáng tác ngôn từ mang dấu ấn riêng của từng vùng miền trên đất nước Việt Nam. Trong định nghĩa của mình, tác giả Ngọc Trân lại nhấn mạnh người sáng tác gắn với nơi sinh sống và nội dung phản ánh: “Văn học địa phương được hiểu là những sáng tác văn học của các tác giả trong một khu vực địa lý cụ thể. Nó phản ánh đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng dân cư ở một địa bàn cư trú nhất định và mang bản sắc riêng, độc đáo, có tính chất đặc thù của vùng, miền, địa phương đó” [47].

TS Đỗ Việt Hùng- Đại học sư Phạm Hà Nội, khái niệm địa phương cần được hiểu một cách rộng rãi.“Địa phương là thôn xã cụ thể, nhưng cũng có thể là huyện thị, tỉnh, thành phố thậm chí là các vùng miền lớn hơn”.Trong bài báo cáo tại Hội thảo khoa học quốc tế Teacher Traning Curriculum Development - Opprtunities and Challenges,PGS. Cao Thị Hảo - Đại học sư phạm Thái Nguyên định nghĩa: Văn học địa phương là những sáng tác văn học của các tác giả trong một khu vực địa lý cụ thể. Nó phản ánh đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng dân cư ở một địa bàn cư trú nhất định và mang bản sắc riêng, độc đáo có tính chất đặc thù của vùng, miền, địa phương đó [10]. Từ những khái niệm trên có thể khẳng định: Văn học địa phương là những sáng tác văn học cá nhân của các tác giả trong một địa phương, vùng, miền cụ thể.

Những sáng tác đó phản ánh đời sống văn hóa tinh thần và mang bản sắc riêng, độc đáo có tính chất đặc thù của vùng dân cư đó. Vị trí và đặc trưng của văn học địa phương Văn học địa phương có vai trò vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển văn hóa- xã hội ở mỗi địa phương. Các tác phẩm văn học địa phương phản ánh đời sống tinh thần, tình cảm của người dân miền núi, góp phần bảo vệ bản sắc văn hóa, phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số, đặc biệt trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay. Mỗi tác phẩm sẽ mang theo những tên đất, tên làng, những hình ảnh thiên nhiên vùng miền rất đỗi thân quen đối với bạn đọc tại địa phương.

Mỗi nhà văn, nhà 8 download by : skknchat@gmail.com thơ bao giờ cũng thuộc về một dân tộc, một nền văn hoá nhất định.Vì thế, họ sẽ truyền tải trong tác phẩm của mình những truyền thống văn hóa của dân tộc. Thông qua ngôn ngữ của văn chương, các lễ hội, phong tục tập quán, đời sống của con người với những nét đặc trưng riêng sẽ được hiện lên một cách đầy đủ và sống động trong tâm hồn bạn đọc. Do đó, văn học địa phương có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân địa phương, đặc biệt là thế hệ trẻ. Bởi vậy, văn học địa phương càng có vị trí quan trọng trong nhà trường.

Đó là nguồn cấp vốn tri thức văn học địa phương cho học sinh, qua đó khơi gợi trong các em niềm yêu mến, trân trọng và đam mê, hứng thú, tìm hiểu, khám phá vốn văn học của quê hương, cũng là việc làm cần kíp nhằm hình thành ở các em lòng yêu nước, quý trọng truyền thống văn hóa, lòng tự hào dân tộc. Bằng ngôn ngữ giàu cảm xúc và hình ảnh, ngữ liệu văn học địa phương dễ đi vào thế giới tâm hồn của người học, nhen lên trong đối tượng này những tình cảm trong sáng, nhân hậu, làm cho các em thêm tin yêu cuộc đời, ước mơ đi đến những miền đất thanh bình, giàu đẹp, từ đó hình thành ý thức phấn đấu học tập để trở thành chủ nhân tương lai của đất nước. Việc khám phá những địa danh thông qua các bài thơ mang đến cho các em những tri thức mới, không khô khan mà nhẹ nhàng, thú vị nhờ được chuyển tải bằng những hình ảnh thấm đẫm chất thơ. Thông qua những tác phẩm văn học địa phương, những truyền thống văn hóa của dân tộc dễ đi vào tâm hồn tình cảm của học sinh, góp phần hoàn thiện nhân cách.

Trong Đề án Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông của chính phủ (tháng 10/2014) đã chỉ ra những bài học kinh nghiệm, những hạn chế của chương trình giáo dục hiện hành là: “Một trong những hạn chế cơ bản của chương trình hiện hành là chưa giải quyết hài hòa giữa yêu cầu và điều kiện chung của toàn quốc với yêu cầu và điều kiện riêng của mỗi địa phương, nhà trường”…Điều này dẫn đến “chưa khuyến khích được sự tự chủ, tính năng động, sáng tạo của các địa phương, cơ sở giáo dục; chưa phát huy được sở trường của mỗi học sinh”. Ý thức được điều đó, trong định hướng đổi mới giáo dục hiện nay, chương trình giáo dục đã có tính mở và chú trọng đến tính vùng, miền và đặc thù của địa phương. Cụ thể, đề án cũng chỉ rõ: một trong những vấn đề cơ bản trong nội dung đổi mới chương trình sách giáo khoa của chính phủ là: “Quản lý quá trình xây dựng và thực hiện chương trình đảm bảo tính khả thi, linh hoạt, phù hợp địa phương và đối tượng học sinh”. 9 download by : skknchat@gmail.com Theo định hướng của Bộ GD-ĐT, giáo dục địa phương đang dần được khẳng định vị thế khi một số môn KHXH đã gắn liền với văn chương, lịch sử, địa lý tại nơi người học sinh sống và cư trú.

Theo dòng chảy của tri thức, giáo dục địa phương đang tìm về cội nguồn phát tích những tinh hoa quý báu mà một vùng đất đã lưu giữ từ mấy trăm năm về trước. Ngày 26 tháng 12 năm 2018, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT, kèm theo đó là chương trình Giáo dục phổ thông- chương trình tổng thể. Trong chương trình giáo dục ban hành, trong kế hoạch giáo dục của cấp THCS, THPT có nội dung giáo dục địa phương là 35 tiết, và Tiếng dân tộc thiểu số( tự chọn) là 105 tiết ở tất cả các lớp từ lớp 6 đến lớp 12. Chương trình giáo dục phổ thông thực hiện mục tiêu giáo dục hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh thông qua các nội dung giáo dục ngôn ngữ và văn học, giáo dục toán học, giáo dục khoa học xã hội, giáo dục khoa học tự nhiên, giáo dục công nghệ, giáo dục tin học, giáo dục công dân, giáo dục quốc phòng và an ninh, giáo dục nghệ thuật, giáo dục thể chất, giáo dục hướng nghiệp.

Trong giáo dục ngôn ngữ và văn học thì giáo dục ngôn ngữ được thực hiện ở tất cả các môn học, trong đó môn Ngữ văn, ngoại ngữ và tiếng dân tộc thiểu số giữ vai trò chủ đao. Còn giáo dục văn học thì chủ yếu thông qua môn Ngữ văn, trong đó có các tác phẩm văn học trong chương trình giáo dục địa phương. Như vậy là, trong chương trình đổi mới tới đây, vai trò của văn học địa phương là vô cùng quan trọng. Các tác phẩm văn học sẽ là một phần không thể thiếu trong nội dung giáo dục địa phương, đồng thời, các tác phẩm song ngữ hoặc được viết bằng tiếng dân tộc sẽ là những ngữ liệu quan trọng để dạy tiếng dân tộc cho học sinh.

Văn học địa phương có những đặc trưng riêng. Bởi vây, việc dạy học văn học địa phương cần chú đến đến các đặc trưng đó. Văn học địa phương gắn với một “vùng văn hóa” cụ thể, mang đặc điểm tự nhiên, xã hội đặc trưng mang tính vùng miền.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ