Chương 1 CƠ SỞ LÝ L ẬN V THỰC TIỄN VỀ CHẾ ĐỘ T I CHÍNH CHO HOẠT ĐỘN N HIÊN CỨ - TRI N KHAI 1. KHÁI NIỆM LIÊN Q AN ĐẾN PHÂN Ổ V Q N LÝ T I CHÍNH CHO HOẠT ĐỘN N HIÊN CỨ - TRI N KHAI 1. Hoạt động nghiên cứu - triển khai Theo Luật KH&CN [26]: - Khoa học: là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; - Công nghệ: là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm; - Hoạt động KH&CN: bao gồm NCKH, NC-TK công nghệ, dịch vụ KH&CN, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển KH&CN; - NCKH: là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. NCKH bao gồm NCCB, NCƯD; - Phát triển công nghệ: là hoạt động nhằm tạo ra và hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới.
Phát triển công nghệ bao gồm triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm; - Triển khai thực nghiệm: là hoạt động ứng dụng kết quả NCKH để làm thực nghiệm nhằm tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới; - Sản xuất thử nghiệm: là hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu triển khai thực nghiệm để sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống; - Dịch vụ KH&CN: là các hoạt động phục vụ việc NCKH và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghệ; các dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng tri thức KH&CN và kinh nghiệm thực tiễn. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, NC-TK có thể hiểu: là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải phảp nhằm ứng dụng vào thực tiễn; là hoạt động ứng dụng kết quả NCKH để tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới và ứng dụng kết quả NCKH và phát triển công nghệ vào sản xuất và đời sống. Tổ chức KH&CN và Tổ chức NC-TK. Hoạt động NC-TK chủ yếu được thực hiện ở các tổ chức KH&CN.
Các tổ chức KH&CN [26] bao gồm: tổ chức NCKH, tổ chức NCKH và phát triển công nghệ; trường đại học, học viện, trường cao đẳng và các tổ chức dịch vụ KH&CN. Tổ chức NCKH, tổ chức NCKH và phát triển công nghệ (được gọi chung là tổ chức NC-TK). Các tổ chức NC-TK được tổ chức dưới các hình thức: Viện NC-TK; Trung tâm NC-TK; Phòng thí nghiệm; Trạm nghiên cứu; Trạm quan trắc; Trạm thử nghiệm và cơ sở NC-TK khác. Căn cứ vào mục tiêu, quy mô tổ chức và phạm vi hoạt động, các tổ chức NC-TK được phân thành: - Tổ chức NC-TK cấp quốc gia: do Chính phủ quyết định thành lập, thực hiện các nhiệm vụ KH&CN ưu tiên, trọng điểm của Nhà nước nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc định ra đường lối, chính sách, pháp luật; tạo ra các kết quả KH&CN mới, có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài về KH&CN.
- Tổ chức NC-TK của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (tổ chức NC-TK cấp Bộ); Tổ chức NC-TK của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (tổ chức NC-TK cấp Tỉnh); Tổ chức NC-TK của cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội ở Trung ương: tổ 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chức NC-TK cấp Bộ, cấp tỉnh do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập hoặc ủy quyền quyết định thành lập. Tổ chức NC-TK cấp Bộ, cấp Tỉnh thực hiện các nhiệm vụ KH&CN phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của ngành, địa phương; đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài về KH&CN; Tổ chức NC-TK của cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội ở Trung ương do cơ quan, tổ chức đó quyết định thành lập chủ yếu thực hiện các hoạt động KH&CN theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan mình; tổ chức NC-TK của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội ở Trung ương chủ yếu thực hiện các hoạt động KH&CN theo mục tiêu, điều lệ của tổ chức mình. - Tổ chức NC-TK cấp cơ sở: được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật, thực hiện các hoạt động KH&CN theo mục tiêu, nhiệm vụ do tổ chức, cá nhân thành lập xác định. Phân bổ NSNN và phân bổ kinh phí SNKH Theo Luật NSNN [27], NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
- Phân bổ NSNN là việc giao dự toán NSNN theo từng loại thu, lĩnh vực chi và theo cơ cấu giữa chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, chi trả nợ. - Thu NSNN bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. - Chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trách nhiệm.
Quốc hội quyết định dự toán NSNN, phân bổ ngân sách Trung ương, phê chuẩn quyết toán NSNN. - Phân bổ kinh phí KH&CN là phân bổ NSNN về hoạt động KH&CN cho các tổ chức, cá nhân thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, duy trì và phát triển tiềm lực KH&CN thông qua các Bộ, ngành và địa phương. - Phân bổ NSNN cho hoạt động NC-TK là phân bổ kinh phí KH&CN cho các tổ chức, cá nhân thực hiện đề tài, dự án, duy trì và phát triển tiềm lực NC-TK thông qua các Bộ, ngành và địa phương. Quản lý NSNN cho hoạt động NC-TK Quản lý là một hoạt động thực tiễn đặt biệt, trong đó chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý để đạt được một mục tiêu nhất định trong một môi trường biến đổi [30], Quản lý bao gồm các yếu tố (điều kiện): - Phải hướng tới một mục tiêu; - Thông qua con người; - Với kỹ thuật, công nghệ; - Hoạt động trong một tổ chức; Quản lý NSNN đối với hoạt động NC-TK là quản lý đồng tiền (kinh phí) và hành vi của tổ chức, cá nhân sử dụng nó để thực hiện nhiệm vụ NC- TK.
Việc quản lý được thực hiện trước, trong và sau khi sử dụng kinh phí (trước là: tư vấn, tuyển chọn, thẩm định và giao dự toán ngân sách; trong là: quá trình chi tiêu đúng mục đích, chế độ và định mức; sau là: công tác quyết toán, tổng hợp, thống kê, phân tích tài liệu, số liệu). Tại Việt Nam, NSNN là nguồn tài chính chủ yếu cho KH&CN, chiếm 80-85%, cho nên hệ thống quản lý KH&CN nói chung và quản lý tài chính cho KH&CN cũng thể hiện tổ chức hệ thống NSNN. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tổ chức cơ quan quản lý Nhà nước về KH&CN Hội đồng chính sách CHÍNH PHỦ KH&CN quốc gia Bộ KH&CN Bộ Tài chính Bộ KH&ĐT Vụ KH&CN Sở Hội đồng các Bộ KH&CN Hội đồng KH&CN KH&CN Bộ Tỉnh tỉnh Viện NC&PT Hội đồng KH&CN cấp cơ sở Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN và tổ chức bộ máy quản lý NSNN trong hoạt động KH&CN được thiết kế tương hợp với hệ thống hành chính quốc gia, đồng thời phù hợp với hệ thống NSNN.
Tổ chức hệ thống quản lý NSNN trong hoạt động KH&CN được hình thành và phát triển trong mối liên hệ hữu cơ với quá trình hình thành và phát triển của Bộ KH&CN và hệ thống quản lý KH&CN quốc gia. Tài chính trong KH&CN được quản lý theo 3 cấp: cấp Trung ương; cấp tỉnh, thành phố; cấp cơ sở. Từ năm 1995, Nhà nước quy định vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các bộ, tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương về kế hoạch hoạt động KH&CN trên cơ sở thống nhất với Bộ KH&CN về tài chính và nội dung KH&CN. Trong thực tế công việc này còn có sự tản mạn, buông lỏng (các bộ đều là đầu mối kế hoạch KH&CN).
Ở các nước tiên tiến, kinh phí cấp cho hoạt động KH&CN khá tập trung trong một vài bộ có nhiều hoạt động KH&CN [38]. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. CHẾ ĐỘ T I CHÍNH CHO HOẠT ĐỘN NC-TK 1. Quan điểm cấp phát và quản lý tài chính cho hoạt động NC-TK Với những bước tiến có tính cách mạng của KH&CN thế kỷ XX và sự phát triển mạnh mẽ của một loạt ngành khoa học như toán lý thuyết và ứng dụng, vật lý hạt nhân, vật lý hạt, vật lý chất rắn, hóa học, sinh học, điện tử học, vi điện tử.đã đưa khoa học lên vị trí trọng yếu trong đời sống xã hội loài người.
Khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và là điều kiện cần thiết để đưa lực lượng sản xuất lên một bước phát triển mới. Bước vào thế kỷ XXI, để giành vị trí dẫn đầu trong các lĩnh vực KH&CN khác nhau, nhiều nước phát triển và đang phát triển đã chú trọng và tăng cường đầu tư vào phát triển KH&CN, tập trung xây dựng và triển khai chiến lượng và chính sách KH&CN quốc gia [5]. Đứng trước bối cảnh KH&CN phát triển trên thế giới, Đảng và Nhà nước ta cũng đã khẳng định rõ và coi việc phát triển KH&CN là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và là động lực phát triển đất nước. Đầu tư cho KH&CN là đầu tư cho phát triển.
Tăng dần tỷ lệ cho NSNN cho KH&CN, đến năm 2000 không dưới 2% tổng chi ngân sách. Quan điểm của Đảng và Nhà nước “đầu tư cho KH&CN là đầu tư phát triển. Nhà nước dành ưu tiên hàng đầu cho việc bố trí ngân sách KH&CN, bảo đảm tỷ lệ NSNN chi cho KH&CN so với tổng số chi NSNN tăng dần theo yêu cầu phát triển của sự nghiệp KH&CN.