CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THIẾT KẾ CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM Ở TIỂU HỌC THEO TIẾP CẬN THAM GIA 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những công trình nghiên cứu trên thế giới Năm 1938, John Deway (1859 – 1952) - triết gia nổi tiếng Mỹ đã xuất bản cuốn sách “Experience and Education” trong đó có câu kết “giáo dục là gì và những điều kiện nào cần phải được thỏa mãn để giáo dục có thể trở thành một thực tế chứ không phải một cái tên gọi hoặc một khẩu hiệu”. Ông chỉ ra rằng giáo dục là sự tham gia của cá nhân vào mặt tâm lý và xã hội và nhà trường không phải nơi để dạy các trẻ em các bài học kiến thức, bài học luân lý; nhà trường phải là một hình thái của đời sống cộng đồng và trẻ em sống và tiếp thu kiến thức từ cộng đồng đó.
Phương pháp dạy trẻ học là giúp trẻ học một cách tự nhiên, không ngăn cản trẻ phát triển tự nhiên[3]. Năm 1984, David Kolb cho ra mắt mô hình phong cách học tập với quan điểm “Học tập là quá trình trong đó kiến thức được tạo ra thông qua việc chuyển hóa kinh nghiệm” [21]. Ông là người đề xướng lý thuyết học tập qua trải nghiệm. Ông có sự kết hợp các tư tưởng của John Deway – Chủ nghĩa thực dụng, J.Lewin – tâm lý học xã hội, J.Piaget – Lý thuyết phát triển nhận thức và đề ra chu trình học tập dựa vào trải nghiệm với kinh nghiệm - trải nghiệm là một trong bốn giai đoạn của chu trình học tập đó.
Theo Kolb, muốn đạt được hiệu quả tốt nhất thì người học cần trải qua cả bốn giai đoạn trong chu trình và “học tập là một quá trình liên tục được khởi nguồn từ kinh nghiệm” tuy nhiên có thể lựa chọn bắt đầu chu trình từ bất kỳ một giai đoạn nào tùy thuộc vào phong cách học của từng người. Việc áp dụng chu trình này dành cho cả người dạy và người học. Do đó, việc vận dụng trải nghiệm cho HS không phải là tùy ý mà là có định hướng có mục đích, mục tiêu ban đầu. Những công trình nghiên cứu trong nước Năm 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố chương trình môn học và hoạt động giáo dục của chương trình giáo dục phổ thông tổng thể.
Trong đó “hoạt động 13 giáo dục bắt buộc xuyên suốt cả các cấp học là HĐTN”. Trong đó ở các lớp học cấp tiểu học hoạt động chủ yếu diễn ra là thực hành vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống, các hoạt động ngoài giờ như chơi trò chơi, đố vui, thi đua… Đối với các lớp ở cấp học trung học các hoạt động mang thêm tính định hướng nghề nghiệp. Văn bản nói rõ đặc điểm của từng môn học, mục tiêu cần đạt được về việc hình thành năng lực, kiên thức, kỹ năng cho HS ở từng cấp học. Trong dự thảo môn Toán “ở từng cấp dành thời lượng để tiến hành các HĐTN toán học cho HS [6].
Theo Đinh Thị Kim Thoa [20], “Xây dựng chương trình HĐTN sáng tạo trong chương trình giáo dục phổ thông mới” thì “thực hành, trải nghiệm đều là những phương thức học hiệu quả, gắn với vận động, với thao tác vật chất, với đời sống thực”. Trong đó các HĐTN sẽ được tổ chức cả ở trong và ngoài lớp học, nhà trường với 4 nhóm nội dung HĐTN (hoạt động phát triển cá nhân; hoạt động lao động, hoạt động xã hội và phục vụ cộng đồng; hoạt động giáo dục hướng nghiệp). Chương trình HĐTN mang tính mở. Một số lí luận vềhoạt động trải nghiệm 1.
Khái niệm hoạt động trải nghiệm a) Hoạt động Có nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt dộng tuỳ theo góc độ xem xét. Dưới góc độ triết học, hoạt động là quan hệ biện chứng của chủ thể và khách thể. Trong quan hệ đó, chủ thể là con người, khách thể là hiện thực khách quan. Ở góc độ này, hoạt động được xem là quá trình mà trong đó có sự chuyển hoá lẫn nhau giữa hai cực “chủ thể - khách thể” [12].
Dưới góc độ sinh học, hoạt động là sự tiêu hao năng lượng thần kinh và bắp thịt cùa con người khi tác động vào hiện thực khách quan nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người. Dưới góc độ tâm lí học, xuất phát từ quan điểm cho rằng cuộc sống của con người là chuỗi những hoạt động, giao tiếp kế tiếp nhau, đan xen vào nhau, hoạt động được hiểu là phương thức tồn tại của con người trong thế giới. Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và cả về phía con người (chủ thể). 14 Trong mối quan hệ đó có hai quá trình diễn ra đồng thời, bổ sung cho nhau, thống nhất với nhau.
Quá trình thứ nhất là quá trình đối tượng hoá (còn gọi là “xuất tâm”), trong đó chủ thể chuyển năng lượng của mình thành sản phẩm hoạt động. Đây là quá trình mà tâm lí của con người (của chủ thể) được bộc lộ, được khách quan hoá trong quá trình làm ra sản phẩm. Như vậy, chúng ta mới có thể tìm hiểu được tâm lí con người thông qua hoạt động của họ. Quá trình thứ hai là quá trình chủ thể hoá (còn gọi là “nhập tâm”), trong đó con người chuyển nội dung khách thể (những quy luật, bản chất, đặc điểm.
của khách thể) vào bản thân mình, tạo nên tâm lí, ý thức, nhân cách của bản thân. Đây chính là quá trình chiếm lĩnh (lĩnh hội) thế giới, là quá trình nhập tâm. Vì thế, người ta có thể nói tâm lí là sự phản ánh thế giới khách quan; nội dung tâm lí do thế giới khách quan quy định [14]. Như vậy, trong hoạt động, con người vừa tạo ra sản phẩm về phía thế giới, vừa tạo ra tâm lí, ý thức của mình, hay nói khác đi, tâm lí, ý thức, nhân cách được bộc lộ, hình thành và phát triển trong hoạt động.
b) Trải nghiệm Trong Từ điển Tiếng Việt [16]: Trải nghiệm được hiểu đơn giản nhất là những gì con người từng kinh qua thực tế, từng biết, từng chịu. Trải nghiệm mang lại cho con người kinh nghiệm phong phú bởi khi trải nghiệm, ta đã trải qua con đường “thử” và “sai”. Người trải nghiệm nhiều sẽ có nhiều kiến thức, kinh nghiệm sống cho bản thân, giúp con người hình thành năng lực, phẩm chất sống. Trải nghiệm có nhiều dạng khác nhau, tùy thuộc vào các tiêu chí khác nhau như phạm vi diễn ra hoạt động, đặc điểm của hoạt động hay nội dung giáo dục thông qua hoạt động.
Học tập thông qua trải nghiệm là học tập thông qua sự phản ánh về việc làm, thường tương phản với học vẹt. Học tập trải nghiệm có liên quan nhưng không đồng nhất với giáo dục thực nghiệm, học tập hành động, học tập khám phá hay học tập dịch vụ. 15 Khi HS trực tiếp tham gia vào các hoạt động trên lớp học, được tương tác với con người, sự vật, được làm những cái mới mẻ mà trước đó chưa từng làm, chưa từng nói, qua đó lấy được kinh nghiệm cho bản thân cũng là trải nghiệm. Thêm vào đó, không phải khi HS hoạt động chân tay, chạy nhảy.
mới gọi là trải nghiệm. Việc các em tư duy, động não về những cái chưa biết, cái mới cũng được cho là trải nghiệm. Từ quan điểm này khi tổ chức hoạt động trải nghệm cho HS nói chung, TN theo TCTG nói riêng, GV không nên cứng nhắc về thời gian, địa điểm hay quy mô thực hiện.[16] c) Hoạt động trải nghiệm Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, kế hoạch giáo dục bao gồm các môn học, chuyên đề học tập (gọi chung là môn học) và HĐTN theo TCTG sáng tạo; hoạt động giáo dục (theo nghĩa rộng) bao gồm “hoạt động dạy học và HĐTN theo TCTG sáng tạo”. Theo Hiệp hội “Giáo dục trải nghiệm” quốc tế định nghĩa về học qua trải nghiệm “là một phạm trù bao hàm nhiều phương pháp trong đó người dạy khuyến khích người học tham gia các trải nghiệm thực tế, sau đó phản ánh, tổng kết lại để tăng cường hiểu biết, phát triển kĩ năng, định hình các giá trị sống và phát triển các năng lực bản thân, tiến tới đóng góp tích cực cho cộng đồng và xã hội” [11].
Do đó chúng ta có thể hiểu “HĐTN theo TCTG sáng tạo là hoạt động giáo dục, trong đó, dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, từng cá nhân HS được tham gia trực tiếp vào các hoạt động thực tiễn khác nhau của đời sống gia đình, nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình”[10]. “HĐTN theo TCTG là chương trình mở, linh hoạt, thể hiện ở chỗ chương trình không quy định chi tiết về các chủ đề hoạt động mà chỉ đưa ra những gợi ý về các mạch nội dung cần giáo dục cho HS, tạo độ mở để tác giả biên soạn tài liệu hướng dẫn chủ động sáng tạo, cơ sở giáo dục và GV lựa chọn hình thức, không gian, thời gian hoạt động sao cho phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của mình trên nguyên 16 tắc bảo đảm mục tiêu giáo dục và các yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực đối với mỗi lớp học, cấp học” [10]. Theo Kolb (1974) “người học có thể bước vào bất kỳ giai đoạn nào của chu trình và chỉ hiệu quả khi một người học có thể thực hiện tất cả bốn giai đoạn của mô hình. Do đó, không có một giai đoạn nào của chu trình có hiệu quả tương đương cả chu trình học tập” [21].
Bốn giai đoạn trong chu trình học tập của Kolb Giai đoạn 1: Trải nghiệm cụ thể - một trải nghiệm hoặc tình huống mới gặp phải, hoặc chất vấn kinh nghiệm vốn có. Giai đoạn 2: Quan sát có tư duy - đặc biệt quan trọng đối với bất kỳ mâu thuẫn nào giữa trải nghiệm và hiểu biết. Giai đoạn 3: Khái niệm hóa vấn đề trừu tượng - sự phản hồi đem đến một ý tưởng mới, hoặc điều chỉnh một khái niệm trừu tượng hiện có. Giai đoạn 4: Thử nghiệm tích cực - người học áp dụng chúng vào thế giới xung quanh để thu được kết quả.
Dựa trên chu trình học tập trên Kolb (1974) đề xuất bốn phong cách học tập khác nhau.