Luận văn thạc sĩ vnu ued thiết kế hoạt động dạy học các bài thơ mới theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ thông

Luận văn thạc sĩ giáo dục nghiên cứu vnu ued thiết kế hoạt động dạy học các bài thơ mới theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên

2014

104
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử vấn đề

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Cấu trúc của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM THƠ MỚI Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Cơ sở lí luận văn học và lịch sử văn học

1.1.1. Khái niệm, đặc trưng của thơ

1.2. Cơ sở tâm lí - giáo dục

1.3. Cơ sở thực tiến

1.4. Thơ mới trong CT và SGK Ngữ văn THPT

1.5. Thực trạng dạy học Thơ mới trong một số trường THPT

1.6. Tiểu kết Chương 1

2. CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ QUY TRÌNH HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM THƠ MỚI

2.1. Nguyên tắc đề xuất quy trình hoạt động dạy học

2.2. Bám sát mục đích, yêu cầu của CT dạy học Thơ mới trong trường Trung học phổ thông

2.3. Bám sát đặc trưng của Thơ mới

2.4. Tăng cường hoạt động của HS

2.5. Tăng cường hoạt động thực hành, ứng dụng

2.6. Kết nối HS với gia đình và xã hội

2.7. Đề xuất quy trình hoạt động dạy học các tác phẩm Thơ mới

2.7.1. Quy trình tổng quan (cấu trúc chương trình)

2.7.2. Quy trình hoạt động cho bài khái quát về Thơ mới

2.7.3. Quy trình hoạt động cho bài học về tác phẩm cụ thể

2.8. Những điểm mới và lưu ý khi ứng dụng

2.8.1. Những điểm mới trong đề xuất về quy trình

2.8.2. Một số lưu ý khi sử dụng quy trình

2.9. Tiểu kết Chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích, đối tượng, nội dung và địa bàn thực nghiệm

3.1.1. Mục đích thực nghiệm

3.1.2. Đối tượng, địa bàn thực nghiệm

3.1.3. Nội dung thực nghiệm

3.1.4. Cách thức thực nghiệm. Thiết kế giáo án thực nghiệm

3.1.5. Cách đánh giá thực nghiệm

3.2. Kết quả thực nghiệm

3.2.1. Thống kê kết quả trả lời các câu hỏi đánh giá

3.2.2. Thống kê đánh giá HS trên các phương diện nhận thức

3.2.3. Đối chứng kết quả đánh giá HS lớp thực nghiệm với lớp đối chứng

3.3. Tiểu kết Chương 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Thiết Kế Hoạt Động Dạy Học Thơ Mới

Thiết kế hoạt động dạy học thơ mới là một phần quan trọng trong giáo dục trung học. Nó không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về các tác phẩm thơ mà còn phát triển năng lực cảm thụ văn học. Việc áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại sẽ tạo ra môi trường học tập tích cực, khuyến khích học sinh tham gia và thể hiện bản thân.

1.1. Khái Niệm Về Thơ Mới Trong Giáo Dục

Thơ mới là một thể loại văn học đặc sắc, phản ánh tâm tư, tình cảm của con người trong xã hội hiện đại. Việc dạy học thơ mới cần phải chú trọng đến các đặc điểm riêng của thể loại này để học sinh có thể cảm nhận và hiểu sâu sắc hơn.

1.2. Vai Trò Của Thơ Mới Trong Chương Trình Giáo Dục

Thơ mới không chỉ là một phần của chương trình Ngữ văn mà còn là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn. Nó giúp học sinh phát triển tư duy phản biện và khả năng sáng tạo, từ đó nâng cao năng lực học tập.

II. Thách Thức Trong Thiết Kế Hoạt Động Dạy Học Thơ Mới

Mặc dù có nhiều lợi ích, việc thiết kế hoạt động dạy học thơ mới cũng gặp phải không ít thách thức. Những khó khăn này có thể đến từ việc thiếu tài liệu, phương pháp giảng dạy chưa phù hợp, hoặc sự thiếu hứng thú của học sinh.

2.1. Thiếu Tài Liệu Hỗ Trợ Dạy Học

Nhiều giáo viên gặp khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu phù hợp để giảng dạy thơ mới. Điều này dẫn đến việc giảng dạy không hiệu quả và không thu hút được sự chú ý của học sinh.

2.2. Phương Pháp Dạy Học Chưa Đáp Ứng Nhu Cầu

Phương pháp dạy học truyền thống thường không khuyến khích sự sáng tạo và tham gia của học sinh. Cần có những phương pháp mới, linh hoạt hơn để kích thích sự hứng thú và khả năng tư duy của học sinh.

III. Phương Pháp Thiết Kế Hoạt Động Dạy Học Thơ Mới Hiệu Quả

Để thiết kế hoạt động dạy học thơ mới hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp dạy học tích cực. Những phương pháp này không chỉ giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách dễ dàng mà còn phát triển các kỹ năng cần thiết.

3.1. Sử Dụng Phương Pháp Học Tập Tích Cực

Phương pháp học tập tích cực khuyến khích học sinh tham gia vào quá trình học. Các hoạt động nhóm, thảo luận và thực hành sẽ giúp học sinh hiểu sâu hơn về tác phẩm thơ mới.

3.2. Kết Hợp Giữa Lý Thuyết Và Thực Hành

Việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành trong dạy học thơ mới sẽ giúp học sinh áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Điều này không chỉ làm tăng tính thực tiễn mà còn giúp học sinh phát triển năng lực tư duy.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Thiết Kế Hoạt Động Dạy Học Thơ Mới

Việc áp dụng thiết kế hoạt động dạy học thơ mới trong thực tiễn đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Học sinh không chỉ nắm vững kiến thức mà còn phát triển được nhiều kỹ năng mềm quan trọng.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Từ Các Trường THPT

Nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng các phương pháp dạy học mới đã giúp học sinh tăng cường khả năng cảm thụ văn học và nâng cao kết quả học tập.

4.2. Phản Hồi Từ Giáo Viên Và Học Sinh

Phản hồi từ giáo viên và học sinh cho thấy rằng thiết kế hoạt động dạy học thơ mới đã tạo ra môi trường học tập tích cực, khuyến khích sự sáng tạo và tham gia của học sinh.

V. Kết Luận Về Thiết Kế Hoạt Động Dạy Học Thơ Mới

Thiết kế hoạt động dạy học thơ mới là một nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục trung học. Việc áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về thơ mà còn phát triển năng lực học tập và kỹ năng sống.

5.1. Tương Lai Của Dạy Học Thơ Mới

Tương lai của dạy học thơ mới sẽ phụ thuộc vào việc cải tiến phương pháp giảng dạy và cập nhật tài liệu. Cần có sự đầu tư và nghiên cứu để nâng cao chất lượng dạy học.

5.2. Khuyến Nghị Đối Với Giáo Viên

Giáo viên cần thường xuyên cập nhật kiến thức và phương pháp dạy học mới để đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh. Việc tham gia các khóa đào tạo và hội thảo sẽ giúp nâng cao năng lực giảng dạy.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ued thiết kế hoạt động dạy học các bài thơ mới theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ thông

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM THƠ MỚI Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Cơ sở lí luận văn học và lịch sử văn học 1. Khái niệm, đặc trưng của thơ a. Khái niệm thơ: Cách đây khoảng 1500 năm, trong cuốn Văn tâm điêu long, Lưu Hiệp đã đề cập đến ba phương diện cơ bản cấu thành nên một bài thơ là tình cảm, ý nghĩa (tình văn), ngôn ngữ (hình văn) và âm thanh (thanh văn).

Đến đời Đường, Bạch Cư Dị đã nêu lên các yếu tố then chốt tạo thành điều kiện tồn tại của thơ: "Cái cảm hoá được lòng người chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm, chẳng gì đi trước được ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa. Với thơ, gốc là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa". Quan niệm này không chỉ dừng lại ở việc nêu lên các yếu tố cấu thành tác phẩm mà còn chỉ ra mối quan hệ gắn bó giữa chúng, giống như gốc rễ, mầm lá, hoa, quả gắn liền với nhau trong một thể thống nhất hoàn chỉnh và sống động. Đây có thể coi là quan niệm về thơ toàn diện và sâu sắc nhất trong nền lý luận văn học cổ điển Trung Hoa.

Các nhà Cấu trúc chủ nghĩa Châu Âu lại thay thế câu hỏi "thơ là gì?" bằng một câu hỏi khác: tính thơ là gì? và nó được thể hiện ra như thế nào? Trong tiểu luận Thơ là gì ?, Jacobson viết: "Nhưng tính thơ được biểu hiện ra như thế nào? Theo cái cách từ ngữ được cảm nhận như là từ ngữ chứ không phải như vật thay thế đơn giản của đối tượng được chỉ định, theo cách những từ, những cú pháp, những ngữ nghĩa của chúng, hình thức bên trong và bên ngoài của chúng không phải là các dấu hiệu vô hồn của hiện thực mà còn có trọng lượng riêng, giá trị riêng". Tiếp tục triển khai lý thuyết tự qui chiếu, Jacobson sau khi nhắc lại hai kiểu sắp xếp cơ bản của hoạt động ngôn ngữ là tuyển chọn và kết hợp, đã đi đến kết luận: "Chức năng thi ca đem nguyên lý tương đương của trục tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp". Mặc dù có lưu ý ít 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiều đến hoạt động nguyên lý tương đương về ý nghĩa nhưng trong tư duy nghiên cứu của Jacobson, cái ý nghĩa ở đây chỉ là ý nghĩa của đối tượng gọi tên và ý nghĩa ngữ pháp nảy sinh từ những mối quan hệ giữa các thành tố cấu trúc có tính chất khép kín của văn bản. Điều đó cũng có nghĩa là khái niệm ý nghĩa được hiểu một cách hạn hẹp.

Bởi trong thực tế, như ta thấy, ý nghĩa của thơ nhiều khi đã vượt ra ngoài giới hạn của văn bản. Ở Việt Nam, cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến với nhiều quan niệm, nhiều khuynh hướng khác nhau. Lý giải về bản chất của thơ, các tác giả nhóm Xuân thu nhã tập cho rằng: "Thơ là một cái gì huyền ảo, tinh khiết, thâm thuý, cao siêu". Còn nhà thơ Tố Hữu thì quan niệm: "Thơ là cái nhụy của cuộc sống".

Dưới cái nhìn cấu trúc, nhà nghiên cứu Phan Ngọc định nghĩa: "Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và suy nghĩ do chính hình thức ngôn ngữ này". Định nghĩa này của giáo sư Phan Ngọc đã kế thừa được những khám phá quan trọng về thơ của nhiều nhà nghiên cứu thuộc các trường phái khác nhau của Tây Âu trong mấy chục năm qua. Đặc biệt, đã gợi ra một trường nghiên cứu thơ hết sức rộng rãi: thơ không chỉ là hiện tượng ngôn ngữ học thuần tuý mà chủ yếu là hiện tượng giao tiếp nghệ thuật, một phát ngôn trong ý nghĩa đầy đủ của từ này. Lịch sử nghiên cứu và phê bình văn học đã được chứng kiến rất nhiều định nghĩa về thơ.

Theo tôi, cách định nghĩa của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học có thể xem là chung nhất: "Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu". Định nghĩa này đã định danh một cách đầy đủ về thơ ở cả nội dung và hình thức nghệ thuật. Đặc biệt, các tác giả đã khu biệt được đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ trong những thể loại văn học khác. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Đặc trưng của thơ Có nhiều cách diễn giải đặc trưng của thơ. Chúng tôi thấy cách trình bày dưới đây có nhiều ý nghĩa phong phú và sâu sắc: b. Về nội dung cảm xúc: Thơ ca có sự tưởng tượng phong phú và cảm thụ mãnh liệt Đặc tính căn bản nhất của thơ ca là tưởng tượng và cảm thụ mãnh liệt. Thượng thư đã nói: “Thơ nói chí” [17, tr.1] (Trung Quốc); Lục Cơ từng nói: “Thi duyên tình nhi kỉ mị” [17, tr.

Bạch Cư Dị: “Thơ, gốc là tình, ngọn là ngôn ngữ, hoa là thanh âm, quả là ý nghĩa” [17, tr. Văn Nhất Đa nói: “Thơ là sự ngưng tụ tình cảm mãnh liệt” [20, tr. Quách Mạc Nhược nói: “Bản chất của thơ là thể hiện tình cảm” [18, tr. Biê-lin-xki đã nhấn mạnh: “Tình cảm là một trong những động lực chủ yếu nhất của bản chất thơ tình; không có tình cảm thì không có thi nhân, và cũng không có thơ ca” [3, tr.

Musset - nhà thơ lãng mạn Pháp - chủ trương: “Thơ là sự phát tiết của tình cảm cá nhân”, thi nhân đã viết trong một bài thơ: “Một lời nói, một nụ cười, một lời than, một cái nhìn đều tạo thành tác phẩm mang vẻ đẹp tinh tế, đầy ma lực và sự sợ hãi; Một giọt lệ biến thành một hạt trân châu; Đây chính là sự si mê của thi nhân trong cõi người Đây chính là hùng tâm và cuộc sống, là của cải của anh ta” Trên thực tế, thơ ca từ xưa đến nay đều lấy tình cảm làm đối tượng biểu đạt. Willam Hallit - nhà phê bình người Anh thế kỉ 19, nói: “Khủng khiếp là thơ, hi vọng là thơ, yêu thương là thơ, thù hận là thơ, khinh thường, đố kị là thơ, yêu mến, thương xót, tuyệt vọng hoặc điên cuồng, tất cả đều là thơ [15, tr. 59] (Tiếng Anh) Thơ ca không ngừng biểu hiện tình cảm, hoặc là mạnh mẽ hùng hồn, hoặc là trằn trọc băn khoăn, hoặc là vui sướng đến phát cuồng, hoặc buồn bã đến đoạn tuyệt, hoặc đau khổ, tất cả đều lộ bộc lộ mãnh liệt, nồng nàn, triền miên không 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Điều đó khiến cho ngay cả thơ tự sự cũng là sự hát lên trong tình cảm mãnh liệt của nhà thơ về một câu chuyện.

Điều đáng chú ý là, thơ ca, mặc dù lấy tình cảm làm đối tượng biểu hiện nhưng không có nghĩa là trong tình cảm mà thơ ca biểu hiện không tồn tại nhân tố ý và nghĩa. Tình cảm trong thơ gắn bó chặt chẽ với nhân tố nghĩa và chí. Chí và nghĩa là thành phần cấu thành tất yếu của tình cảm thơ ca. Cùng với tình cảm mãnh liệt, điều mà mọi người đều nhất trí là thơ ca có sự tưởng tượng phong phú.

Trong sáng tác thơ ca, khi tình cảm của nhà thơ dâng trào mãnh liệt, muốn dừng mà không được, thì những thể nghiệm thẩm mĩ và cảm thụ thẩm mĩ sẽ phá vỡ cái vỏ bề ngoài của sự thực khách quan, vượt qua giới hạn giữa vật và ta, giữa không gian và thời gian, thậm chí lấy sinh mệnh, tình cảm gán cho những vật thể vô tri vô giác. Lúc đó, trí tưởng tượng và suy nghĩ của thi nhân cứ miên man không dứt. Tưởng tượng giống như cánh chim tự do bay lượn. Tưởng tượng, bản thân nó lại giúp cho tình cảm được nâng lên một tầng cao mới.

Do đó, trong thơ ca: nhật, nguyệt, tinh tú, phong, hoa, tuyết, sấm chớp… đều chịu sự điều khiển của nhà thơ; sông hồ biển cả, núi cao đèo sâu, đều có thể bay lên nhảy múa; thảo mộc hoa lá, cá chim côn trùng đều có thể nói tình đạt ý. Tuyết Thái chỉ ra: “Trong ý nghĩa thông thường, thơ ca có thể giới thuyết là: sự biểu hiện của trí tưởng tượng” [16, tr. Willam Hallit nói: “Thơ ca là sự quyết liệt của tình cảm và huyễn tưởng” [14, tr. Ngải Thanh viết: “Không có tưởng tượng thì cũng không có thơ ca”, “tài năng quan trọng nhất của thi nhân chính là khả năng vận dụng trí tưởng tượng”, “Ý tượng, ý cảnh đều do tưởng tượng mà thành” [19, tr.

Về đặc trưng kết cấu: Thơ ca có kết cấu mang tính đột biến Trên phương diện hình thức bên ngoài, thơ ca có sự phân dòng, sắp đặt tiết tấu. Ở phương diện hình thức bên trong, thơ ca biểu hiện ra một loại kết cấu mang tính nhảy vọt. Cả hai đều khiến thơ ca khác với các thể loại văn học khác, nhưng kết cấu bên trong giữ vai trò quan trọng hơn. Đặc điểm của hình 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thức kết cấu mang tính nhảy vọt là: không tuân theo thứ tự không gian, thời gian tự nhiên mà tùy ý co giãn, lúc căng lúc chùng hết sức linh hoạt, lúc thì đột nhiên đến, lúc thì đột nhiên đi, từ đầu này nhảy đến đầu khác, từ có ý đến trống không; tỉnh lược quan hệ từ, tỉnh lược câu, đoạn mang tính quá độ, tính quá trình.

Đặc điểm này do đặc tính thẩm mĩ của thơ quyết định. Thơ ca bão hòa tình cảm, phong phú tưởng tượng, cho nên, tất yếu tuân theo logic của tình cảm và tưởng tượng, mà lô-gic của tình cảm và tưởng tượng là không chấp nhận giới hạn không gian thời gian, lúc thì ở chỗ này, lúc thì ở chỗ kia, thoắt ở trước mắt, thoắt lại ở sau lưng, nhảy nhót bất tận làm lộ ra một khoảng trống nhất định. Về ngôn ngữ: Thơ ca có sự kết tụ đặc biệt về ngôn ngữ, coi trọng sự lạ hóa, giàu tiết tấu và âm luật, phong phú về nhạc tính. Sự kết tụ đặc biệt của ngôn ngữ thơ ca là: vận dụng triệt để khả năng của câu thơ để biểu đạt nội dung phong phú, ý tứ rộng lớn, thậm chí yêu cầu mỗi từ đều phải có sức biểu hiện mãnh liệt, khiến cho một lời cũng thấu tình, hai chữ cũng đạt lí, lấy ít nói nhiều, bảo tồn được tình cảm và diện mạo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Thiết Kế Hoạt Động Dạy Học Thơ Mới Phát Triển Năng Lực Học Sinh Trung Học" cung cấp một cái nhìn sâu sắc về cách thiết kế các hoạt động dạy học thơ mới nhằm phát triển năng lực cho học sinh trung học. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại, giúp học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức mà còn phát triển kỹ năng tư duy phản biện và sáng tạo.

Độc giả sẽ tìm thấy nhiều lợi ích từ tài liệu này, bao gồm các chiến lược cụ thể để tạo ra môi trường học tập tích cực và khuyến khích sự tham gia của học sinh. Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo tài liệu "Luận văn vận dụng quan điểm giao tiếp vào dạy học ngữ pháp ở bậc trung học phổ thông", nơi cung cấp cái nhìn về việc áp dụng giao tiếp trong dạy học ngữ pháp.

Ngoài ra, tài liệu "Luận văn vận dụng lý thuyết kiến tạo vào dạy học truyện ngắn vợ nhặt ở trường trung học phổ thông" cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc áp dụng lý thuyết kiến tạo trong giảng dạy văn học. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Luận văn thạc sĩ giáo dục học vận dụng mô hình học hợp tác với sự hỗ trợ của máy vi tính vào dạy học chương điện học vật lí 9 trung học cơ sở", tài liệu này sẽ cung cấp những phương pháp dạy học hợp tác hiệu quả trong môn vật lý.

Mỗi liên kết trên đều là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các phương pháp dạy học hiện đại, từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập.