đặt vấn đề về những điều mình còn thắc mắc để bạn bè và giáo viên cùng tham gia giải quyết, phát huy đƣợc tinh thần học nhóm trong sinh viên. Điều này đã đƣợc các giáo viên dự giờ thừa nhận đồng thời kết quả kiểm tra của lớp thực nghiệm cao hơn. [1] Theo nghiên cứu của thạc sĩ Phan Bạch Đằng, “thiết kế bộ phƣơng tiện dạy học trong dạy lý thuyết lái xe mô tô cho ngƣời dân tộc Khmer tại Bạc Liêu” năm 2012. Sản phẩm nghiên cứu: Bộ phƣơng tiện dạy học gồm những đoạn phim hoạt hình Flash và những bức tranh nhằm minh họa cho bộ câu hỏi lý thuyết lái xe mô tô hiện hành.
Trong đó có 41 đoạn phim hoạt hình Flash và 19 bức tranh. Kết quả nghiên cứu: Qua kết quả thực nghiệm khẳng định kết quả của việc ứng dụng bộ phƣơng tiện dạy học vào trong giảng dạy lý thuyết lái xe mô tô sẽ tích cực hóa hoạt động của học viên, học viên hứng thú hơn trong học tập, tích cực phát huy khả năng tƣ duy sáng tạo, giúp học viên dễ dàng tiếp thu kiến thức mới. [3] 9 Luan van Theo nghiên cứu của thạc sĩ Trần Thanh Hƣơng, “thiết kế phƣơng tiện dạy học cho môn học qui trình công nghệ sản xuất hàng may công nghiệp” năm 1995. Sản phẩm nghiên cứu: Bảng tĩnh, tranh ảnh dạy học và video hỗ trợ dạy học.
Kết quả nghiên cứu: Môn học qui trình công nghệ sản xuất hàng may mặc là một môn học rất trừu tƣợng. Do thiếu kinh nghiệm thực tế nên sinh viên sẽ rất khó để nắm bắt hết đƣợc nội dung môn học. Nhờ có bộ phƣơng tiện dạy học này mà sinh viên hiểu bài dễ dàng hơn, tiếp cận nội dung một cách trực quan hơn. Qua kết quả thực nghiệm sinh viên đạt kết quả học tập cao hơn hẳn.
[6] Từ những kết quả nghiên cứu nói trên càng khẳng định rằng việc thiết kế, chế tạo phƣơng tiện nhìn dạy học đã, đang và sẽ giúp ích rất nhiều cho việc dạy học. Phƣơng tiện dạy học nói chung và phƣơng tiện nhìn dạy học nói riêng không những giúp giáo viên truyền thụ nội dung một cách trực quan sinh động, giúp sinh viên tiếp thu kiến thức dễ dàng, dễ nhớ, nhớ lâu mà còn giúp tiết kiệm thời gian dạy và học, sinh viên ngày càng nâng cao tính tự lực tự giác và sáng tạo. Ngƣời nghiên cứu chọn thiết kế, chế tạo phiếu hƣớng dẫn thực hành hỗ trợ dạy học môn Thiết kế Trang phục IV hoàn toàn phù hợp với điều kiện dạy và học. Sản phẩm đƣợc làm bằng tay, dễ làm, ít tốn kém, dễ bảo quản, dễ sử dụng trong môi trƣờng xƣởng thực hành, đồng thời sản phẩm cũng có thể làm tƣ liệu cho sinh viên và giáo viên trong các tiết học lý thuyết và tự học.
Các khái niệm Phƣơng tiện dạy học Theo nghĩa rộng: phƣơng tiện dạy học là tất cả các yếu tố liên quan đến quá trình dạy học nhằm tăng cƣờng nhận thức của sinh viên, đó là tất cả các yếu tố tác động đến sự chuyển hóa của nội dung nhằm đạt đƣợc mục tiêu dạy học. Nhƣ vậy phƣơng tiện dạy học bao gồm các yếu tố nhƣ các công cụ, máy móc, thiết bị, kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo sẵn có của giáo viên và sinh viên, môi trƣờng học tập… Theo nghĩa hẹp: phƣơng tiện dạy học là tập hợp những đối tƣợng vật chất và tinh thần đƣợc giáo viên sử dụng để điều khiển hoạt động nhận thức của sinh viên nhằm đạt đƣợc mục tiêu dạy học và đối với sinh viên, nó là nguồn tri thức trực quan sinh động, là công cụ để rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo. [16, 33 - 34] 10 Luan van Phƣơng tiện nhìn Phƣơng tiện nhìn là một phƣơng tiện dạy học tƣợng hình, chỉ tác động qua kênh nhìn, nó chính là sự vật hiện tƣợng hay đƣợc dùng để mô tả một sự vật hiện tƣợng. Phƣơng tiện nhìn thƣờng giống nhƣ vật nó muốn mô tả.
Khi muốn tranh luận về một vật không có sẵn thì cách tốt nhất và trực quan nhất là dựa trên tranh vẽ hay mô hình, mô phỏng về vật đó. [5, 72] Thiết kế, chế tạo Thiết kế “Thiết kế là những gì liên kết sự sáng tạo và đổi mới. Nó định hình các ý tƣởng để trở thành những đề xuất thực tiễn và hấp dẫn ngƣời dùng hoặc khách hàng. Thiết kế có thể đƣợc mô tả nhƣ sự triển khai sáng tạo đến một mục đích cụ thể nào đó.” – Theo George Cox, trƣởng khoa Đồ Họa, Trƣờng Đại học Luân Đôn.
Thuộc tính rõ ràng nhất của thiết kế là nó tạo ra từ những tƣ duy trừu tƣợng và các nguồn cảm hứng khác nhau và nó làm cho các ý tƣởng trở nên hữu hình, biến một điều gì đó trở nên hiện thực hơn. Trong dạy học, thiết kế là lên kế hoạch một cách có hệ thống và có chủ ý, hoặc một quá trình đƣa ra ý tƣởng trƣớc khi phát triển hoặc thực hiện một kế hoạch nhằm giải quyết vấn đề. Thiết kế bao gồm việc xem xét các yếu tố có thể ảnh hƣởng hoặc bị ảnh hƣởng bởi việc thực hiện một kế hoạch dạy học. [15, 64 - 65] Chế tạo Theo từ điển tiếng Việt, chế tạo là sử dụng nguyên vật liệu tạo ra sản phẩm.
Chế tạo là hoạt động biến những ý tƣởng thành hiện thực, những sản phẩm sau khi chế tạo có thể sử dụng đƣợc, có giá trị về mặt vật chất hay tinh thần. Chế tạo là sử dụng những nguyên vật liệu cần thiết để phát triển và thực hiện kế hoạch sau khi thiết kế để tạo ra một sản phẩm hoàn thiện. Thiết kế, chế tạo phương tiện nhìn Lập kế hoạch một cách có hệ thống và có chủ ý hoặc lên một quá trình từ ý tƣởng đến hiện thực và sử dụng những nguyên vật liệu cần thiết để phát triển, thực hiện kế hoạch tạo ra phƣơng tiện nhìn hoàn chỉnh phục vụ trong quá trình dạy học. Cơ sở tâm lý Để đạt đƣợc hiệu quả cao trong giảng dạy thì việc hiểu đƣợc đặc tính nội tâm và nhu cầu và đặc điểm tâm lý… của sinh viên là nhân tố quan trọng.
Có rất nhiều yếu tố ảnh hƣởng đến sự thành công của quá trình giảng dạy nhƣng ngƣời nghiên cứu phân tích những yếu tố: đặc điểm nội tâm, đặc điểm tâm lý, đặc điểm giới tính. Về đặc điểm nội tâm của sinh viên Nhƣ tâm lý học sƣ phạm có nhấn mạnh, thế giới nội tâm của sinh viên là vô cùng phức tạp. Quá trình nội tâm của sinh viên là một quá trình đầy những mâu thuẫn, là quá trình vận chuyển từ các yêu cầu bên ngoài thành yêu cầu của bản thân sinh viên, là quá trình tự vận động và hoạt động tích cực của chính bản thân họ. Trong giai đoạn này, sinh viên thƣờng có những mâu thuẫn chính là: - Mâu thuẫn giữa ƣớc mơ với khả năng, điều kiện và kinh nghiệm để thực hiện ƣớc mơ đó.
- Mâu thuẫn giữa mong muốn học tập, nghiên cứu chuyên sâu những môn yêu thích và yêu cầu hoàn thành chƣơng trình học tập. - Mâu thuẫn giữa việc không yêu thích môn học nào đó nhƣng vẫn phải lên lớp vì điểm danh và điểm số với việc không có thời gian để tìm hiểu thêm môn học mình yêu thích. - Mâu thuẫn giữa lƣợng thông tin vô cùng phong phú, đa dạng với khả năng và điều kiện xử lý thông tin. - Nhiều mâu thuẫn đời thƣờng khác ảnh hƣởng không nhỏ đến quá trình học tập cũng nhƣ đời sống của sinh viên.
Hoạt động học tập của sinh viên là một hoạt động tâm lý đƣợc tổ chức độc đáo bởi chính sinh viên một cách có ý thức nhằm mục đích trở thành chuyên gia của một lĩnh vực nào đó, nhằm phát triển toàn diện, sáng tạo. Hoạt động học tập của sinh viên cũng mang những nét đặc trƣng của quá trình học tập nói chung. - Có tính chất riêng biệt về mục đích và kết quả học tập. Mỗi sinh viên học vì mục đích khác nhau và đem lại kết quả khác nhau.
- Là hoạt động diễn ra trong điều kiện cụ thể và kế hoạch rõ ràng vì nó phụ thuộc vào nội dung, chƣơng trình, mục tiêu, phƣơng thức và thời gian đào tạo. - Phƣơng tiện hoạt động là giáo trình, nhà xƣởng, các thiết bị bộ môn học …; 12 Luan van - Tâm lý diễn ra trong quá trình hoạt động với nhịp độ thay đổi. Lúc thì căng thẳng mạnh mẽ đặc biệt trong các kỳ thi, kiểm tra, bảo vệ luận văn…. Lúc thì nhẹ nhàng đặc biệt trong kỳ nghỉ, đầu kỳ học.
[8, 109 - 126] Về đặc điểm tâm lý Trong thời kỳ này sự phát triển trí tuệ đƣợc đặc trƣng bởi sự nâng cao năng lực trí tuệ, biểu hiện rõ rệt nhất ở tƣ duy sâu sắc và rộng mở, có năng lực giải quyết những nhiệm vụ ngày một khó khăn hơn, cũng nhƣ tiến bộ rõ rệt trong lập luận logic, trong việc lĩnh hội tri thức, trí tƣởng tƣợng, sự chú ý và ghi nhớ ở lứa tuổi này đã phát triển và hình thành ý tƣởng trừu tƣợng, khả năng phán đoán, nhu cầu hiểu biết và học tập. Một trong những đặc trƣng cơ bản của sự phát triển trí tuệ của thời kỳ này là tính nhạy bén cao độ, khả năng giải thích nhờ vào những kinh nghiệm và tri thức đã có trƣớc đây. Những sự phát triển nói trên cùng với óc quan sát tích cực và nghiêm túc sẽ tạo khả năng cho lứa tuổi này biết cách lĩnh hội một cách tối ƣu, mà đó chính là cơ sở của toàn bộ quá trình học tập. Một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng của lứa tuổi sinh viên là sự phát triển tự ý thức.
Tự ý thức là một loại ý thức đặc biệt có chức năng điều chỉnh nhận thức và thái độ đối với bản thân và xã hội. Đó là quá trình tự quan sát, tự phân tích, tự kiểm tra, tự đánh giá, tự chịu trách nhiệm… về hành động và tác động của hoạt động đó đến bản thân và xã hội. Tóm lại đặc điểm tâm lý sinh viên cần lƣu ý: Sinh viên hoàn toàn có khả năng tự học, tự nghiên cứu, tuy nhiên khả năng đó nhiều hay ít phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có cách dạy của giáo viên.