CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VẺ THÍCH ỨNG XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN NỘI TRÚ 1. Lich sử nghiên cứu vẫn dé 1. Trên the giới Thích ứng có vai trò quan trọng đổi với sự tồn tại và phát triển của con người, nhất là khi môi trường xung quanh có sự thay đổi. Trong tâm lý học, thích ứng là vẫn để được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tỉm hiểu từ những năm cuỗi the ki 19.
Năm 1895, trong tác phẩm “Những nguyên |p tâm lý hoc", Herpert Spencer đã chỉ ra rằng cuộc sống là sự thích ứng liên tục của các mỗi quan hệ bên trong và mỗi quan hệ bên ngoải. Năm 1968, trong tác phẩm “Adjustment and mental health" (Thich ứng và sức khỏe tinh than) Arkoff đã công bo công trình nghiên cứu vẻ sự thích ứng tâm lý, bao gồm cả thích ứng với hoạt động học tập của học sinh va sinh viên. Theo ABE Arkoff, gia đình, trường học, trường dạy nghề, tinh trạng hỗn nhân là những chi số quan trọng của sự biến đổi (thích ứng). Nghiên cứu “Đặc điểm của sự thích ứng xã hội và nghề nghiệp của người sinh viên tốt nghiệp trường sư phạm" (1969), Ermolaeva E.
đã đưa ra khái niệm thích ứng và những chi số đặc trưng cho sự thích ứng nghè nghiệp ở người sinh viên đã tốt nghiệp trường sư phạm. Theo tác giả: “Thích ứng nghề nghiệp là một quá trình thích nghi của người mới lao động với đặc điểm và điều kiện lao động trong tập thể nhất định". Bà đưa ra bon chỉ so khách quan va ba chỉ số chủ quan của sự thích ứng nghề nghiệp: “Bon chỉ số khách quan: Chất lượng công việc; Trình độ tay nghề; Uy tin của cả nhân trong tập thể; Sự tuân thi ky luật lao động. 5 Ba chi số chủ quan: Thai độ hài lòng với công việc; Điều kiện lam việc; Moi quan hệ với người khác trong tập the." Tác giả đã chỉ ra thời điểm mà sự thích img xuất hiện, đó là: “Khí làm quen với những điều kiện mới đó kéo theo những sự tiêu ton sức lực nhất định".
Mặc dù chỉ nghiên cứu lĩnh vực thích img lao động, nhưng ý kiến của Ermolaeva E. góp phan làm sáng tỏ thêm lý luận về sự thích ứng, nhất la van dé chỉ số của sự thích ứng [dẫn theo 36, tr. Andreeva đã phân tích kha chi tiết về khai niệm thích ứng. Tác gia đã chỉ ra được sự khác biệt cơ bản giữa thích ứng với thích nghỉ sinh học, đặc biệt bả đã sử dụng nguyên tắc hoạt động theo quan điểm Tâm lý học hiện đại để nghiên cứu vẫn đẻ thích ứng.
Andreeva cho rằng thích ứng là một quả trình tạo ra một chế độ hoạt động tôi ưu có mục dich của nhân cách, tức 14 con người vừa thích nghỉ với điều kiện mới, vừa phải chủ động thâm nhận vào những điều kiện đó để xây dựng một chế độ hoạt động mới, phủ hợp và đáp ứng những yêu cầu của điều kiện mới. Nhìn chung, những nghiên cứu trên đã góp phan quan trọng trong việc làm sáng tỏ lý luận về thích ứng như: có sự phân biệt giữa thích ứng và thích nghỉ sinh học, đưa ra được các chỉ số thích ứng trong những vấn đề cụ thẻ, mỗi quan hệ giữa thích img với các yếu tô khách quan và chủ quan, từ đó làm bật lên vai trò của thích ứng đối với cuộc sống mỗi người. Trên cơ sở đó, các nghiên cứu mới sẽ có cơ hội đôi chiều, tìm hiểu va phân tích sự thích ứng một cách toan diện hon. Ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu thích ứng tại Việt Nam tương đổi đa dạng va phong phú, chủ yếu tập trung vào các hướng sau: Những nghiên cứu về thích ứng học tập Nguyễn Ngọc Bích, tác giả của để tài “Thích ứng học đường của sinh 6 viên sư phạm ” (1982) đã phan tích hiện trạng vẻ sự thích img học đường của sinh viên sư phạm va những yếu tổ khách quan lẫn chủ quan ảnh hưởng đến sự thích ứng đó.
Tác giả cho rằng sự thích ứng với trường học và nghề nghiệp của sinh viên là qua trình thích nghĩ, hải lòng với các hoạt động hoc tập, nghề nghiệp trong hoàn cảnh nhất định. Luận án Tiến sĩ khoa học quân sự với dé tai “Nghién cứu sự thích ứng với học tận và rên luyện của học viễn các trưởng sĩ quan Quan đội ” của tac giả Đỗ Mạnh Tôn (1996) đã chỉ ra rằng sự thích ứng học tập thé hiện trên ba phương diện: động cơ và xu hướng nghẻ nghiệp; kỹ năng và kỹ xảo học tập; thói quen vả hanh vi. Các chỉ số biểu hiện sự thích ứng học tập của học viên quân sự là: sự say mê hứng thú học tập, kết quả học tập cao, tinh kỷ luật trong học tap. Tir đỏ tac gia đã lựa chọn kỹ năng học tận co bản (nghe, phi bai giảng) của học viên dé tiền hành thực nghiệm tác động sư phạm.
Nghiên cứu "Phát triển khả năng thích ứng với hình thức hoạt động giải quyết tình huéng sư phạm cho sinh viên " (2000) của các tac giả Nguyễn Xuân Thức và Nguyễn Minh Huyền đã kết luận rằng biện pháp tác động “Cung cấp hiểu biết lý luận cho sinh viên về tình hudng sư phạm, rèn cho sinh viên kỹ năng giải quyết tình huong sư phạm " có thé nâng cao thích img với hình thức hoạt động giải quyết tình huéng sư phạm cho sinh viên. “Nehién cứu sự thích ứng với hoạt động học của sinh viên Dai học Sư phạm Ha Nói" (2002) của Lê Ngọc Lan cho rằng thích ứng là một cau trúc tâm lý gồm hai yếu tổ: năm được những phương thức hanh vi thích hợp, đáp ứng được những yêu cau của cuộc sống và hoạt động: hình thành những cầu tạo tâm lý mới tạo nên tính chủ thé của hành vi và hoạt động. Hai yếu t6 nay gắn bỏ chặt chẽ với nhau giúp con người điều chỉnh được hệ thong thai độ, hanh vi hiện có, hinh thanh hệ thống thai độ hành vi mới phù hợp với môi trường đã thay đôi. Thích ứng với cuộc sống và hoạt động ở môi trường mới có nhiều yêu cầu mới cao hơn là một quá trình lâu dai; tốc độ va kết quả của quá trình đó phụ thuộc rất nhiều vào sự nỗ lực, ý thức va kha năng của mỗi sinh viên.
Từ đó, tac giả đưa ra kiến nghị cần xây dựng cho người học phương pháp học mới phủ hợp với chương trình nội dung học tập mới dé giúp họ thích ứng tốt hơn với việc học tập ở trường đại học. Năm 2005, tác giả Nguyễn Xuân Thức đã tiền hành nghiên cứu “Sự thích ứng với hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của sinh viên Đại học Sư phạm ” trên ba mặt: nhận thức, thai độ va hành vi. Kết quả nghiên cứu đưa tác giả đến kết luận răng, nhìn chung, tất cả các sinh viên đều thích ứng với hoạt động rên luyện nghiệp vụ su phạm nhưng mức độ thích ứng không cao, chỉ ở mức trung bình va khá; hơn nữa, sự thích ứng của sinh viên la không đồng đều trên các mặt được nghiên cứu. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đã chỉ ra hai nhỏm nguyễn nhân chủ quan vả khách quan can trở sự thích ứng với hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của sinh viên.
Nhóm nguyên nhân chủ quan bao gom: sự thiểu hiểu biết, chưa thay đây đủ ý nghĩa, tác dung của nội dung hoạt động, hạn chế của cá nhân, thiếu hứng thú, thiếu thời gian và các điều kiện khác, va cuỗi cùng là sự thiểu nỗ lực của sinh viên. Nhóm nguyên nhân khách quan bao gồm: sự tổ chức chưa thường xuyên, công tác tổ chức lớp chưa tốt, những nguyên nhân từ phía giáo viên hướng dẫn và cudi cùng là điều kiện vẻ cơ sở vật chất [39]. Năm 2009, Đặng Thị Lan bảo vệ thành công luận án Tiền sĩ: “Mire đô thích ứng với hoạt động hoc mot số môn học chung và môn doc hiểu tiếng nước ngoài của sinh viên Trưởng Dai học ngoại ngữ - Đại hoc Quốc gia Hà Nor”. Tác giả rút ra một số kết luận sau: “Mite độ thích ứng với hoạt động học một số môn học chưng và môn đọc hiểu tiếng nước ngoài của sinh viên Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại hạc Quốc gia Hà Nội còn thấp.
So với mức độ thích ứng với hoạt động học một số môn học chung thì mức độ thích ứng hoạt động học môn đọc hiểu tiếng ngoại ngữ là thấp hơn. Có nhiều yếu tô chủ § quan và khách quan ảnh hưởng đến mức độ thích img với hoạt động học của sinh viên Trưởng Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội, trong đó yếu tổ chủ quan có ảnh hưởng nhiêu hơn. Hanh động học là yếu to chủ quan và cơ sở vật chất là yêu tổ khách quan co ảnh hưởng nhiều nhất đến mức độ thích ứng với hoạt động học của họ. Nếu tổ chức và hướng dan sinh viên thực hành một số hành động học cơ bản sẽ nâng cao khả năng thích ứng với hoạt động học theo tin chỉ của sinh viễn.
` [17] Luận án Tiên sĩ Tâm lý học “Thích ứng với hoạt động học tập theo hoc chế tin chỉ của sinh viên Đại hoc Thai Nguyên"` của Nguyễn Thị Ut Sáu (2013) cho thấy sinh viên Đại học Thái Nguyên thích ứng ở mức khá với hoạt động học tập theo học chế tín chỉ. Sự thích ứng của sinh viên được khảo sát trên các mặt nhận thức, thái độ và hành động. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn chỉ ra rằng có nhiều yếu tổ ảnh hưởng đến thích ứng của sinh viên với hoạt động học tập theo học chế tin chỉ, trong đó yêu tổ phương pháp học tập của sinh viên có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất. Những nghiên cứu về thích ứng nghề nghiệp: Luận văn Thạc sĩ “Bước dau tìm hiểu sự thích img nghề nghiệp của giao viên Tam lý- Giáo duc” của Bùi Ngọc Dung (1981) đã đưa ra một số chỉ số khách quan và chủ quan để đánh giá khả năng thích ứng nghề nghiệp của giao viên Tâm ly- Giáo dục.
Luận văn Thạc sĩ "Đánh giá mức độ thích ứng nghe nghiệp của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Sơn La" (2009) của Nguyễn Thị Hoa đã chỉ ra rằng thích img nghé nghiệp của sinh viên trường Cao đăng Sư phạm Son Fa chủ yếu ở mức trung bình, sinh viên thích ứng tốt nhất với các mỗi quan hệ và thích ứng kém nhất với điều kiện, phương tiện học tập ở trường Cao đăng.