Chương 1: Cơ sở lý luận định hướng giá trị văn hóa công nghiệp của sinh viên chuyên ngành quản trị nhân lực Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn 11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỊNH HƢỚNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA CÔNG NGHIỆP CỦA SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ NHÂN LỰC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Vấn đề giá trị, giá trị VHCN và định hướng giá trị, định hướng giá trị VHCN đã được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu và ứng dụng vào thực tế. Tuy nhiên, ở Việt Nam định hướng giá trị VHCN trong những năm gần đây mới được các nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, với những mục tiêu khác nhau. Những nghiên cứu về văn hóa và giá trị văn hóa 1.
Xu hướng thứ nhất: Nghiên cứu về văn hóa Trong quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa không chỉ phản ánh những giá trị sáng tạo do loài người phát minh ra, mà còn làm bộc lộ những bản chất con người như: cách thức ứng xử với văn hóa, lối sống văn hóa, tác phong văn hóa, phương thức sử dụng văn hóa. Văn hóa không chung chung, trừu tượng mà luôn gắn với từng đối tượng xác định: cá nhân, tổ chức, một cộng đồng xã hội. Đối với cá nhân con người, văn hóa là hệ thống những thái độ, niềm tin, giá trị hay hệ thống những phẩm chất và năng lực định hướng hoạt động sống của cá nhân phù hợp chuẩn mực chung của xã hội. Do đó, định hướng giá trị văn hóa thực chất là quá trình giáo dục con người có văn hóa, nhân cách.
Văn hóa của con người thể hiện ra ở hành vi của người đó trong các mối quan hệ. Đối với tổ chức, văn hóa là “tập hợp các giá trị, thái độ, niềm tin và những ý nghĩa, được chia sẻ bởi tất cả các thành viên trong tổ chức đó”. Đây là dấu hiệu đầu tiên để phân biệt các nhóm xã hội (Duarte D.,2001) [97] Một tổ chức có văn hóa phát triển ở trình độ cao được mô tả bao gồm những thành viên với tinh thần trách nhiệm và tính tự chủ cao, những người có thể tin cậy được trong việc tự đặt ra những tiêu chuẩn và kỷ luật của bản thân, đồng thời ở đó 12 sự tự do này tạo điều kiện thúc đẩy khả năng tương tác, giãi bày. Một tổ chức có trình độ phát triển như vậy về văn hóa sẽ rất khó thay đổi và không dễ dàng tiếp nhận những giá trị mới.
Trần Ngọc Thêm (1999), tác giả đã không trình bày khái niệm văn hóa ứng xử, nhưng đã xác định những nội hàm của khái niệm này. Tác giả cho rằng các cộng đồng chủ thể văn hóa tồn tại trong quan hệ với hai loại môi trường: môi trường tự nhiên (thiên nhiên, khí hậu…) và môi trường xã hội (các quốc gia láng giềng). Với mỗi loại môi trường, đều có cách thức xử thế phù hợp là tận dụng và ứng phó. Giữa văn hóa và hệ thống giá trị có mối quan hệ gần gũi.
Theo tác giả Phạm Minh Hạc, văn hóa gồm hai dấu hiệu quan trọng là hệ thống giá trị và chủ thể sở hữu hệ thống giá trị đó. Trong đó, hệ thống giá trị vừa là sản phẩm do chủ thể tạo ra vừa là môi trường để chủ thể tồn tại, phát triển. Sự phát triển bền vững của chủ thể phụ thuộc vào chất lượng của mối quan hệ qua lại giữa chủ thể sở hữu các giá trị về hệ thống giá trị đó. Vì thế, người ta thường hay dùng giá trị văn hóa để nói đến bản chất của văn hóa.
Xu hướng thứ hai: Nghiên cứu về giá trị văn hóa Có thể xác định lịch sử giá trị được bắt đầu ở Mỹ vào năm 1776, khi những người trong ban soạn thảo Tuyên ngôn độc lập Mỹ đã đặt ra trách nhiệm của nhà trường là giáo dục cho thế hệ tương lai các phẩm chất đạo đức truyền đạt cho họ các giá trị, đặc biệt là giá trị dân chủ[32]. Những năm đầu của thế kỷ XX, có nhiều công trình nghiên cứu về giá trị trên các phương diện khác nhau. Ở phương Tây có các tác giả như: Clyde Kluckhohn, G.Macionis… Nghiên cứu giá trị mác xít ở Liên xô cũ và Đông Âu có Diane Tillman, Tugarinov, Travtravatde, V. Ở Châu Á, từ những thập kỷ đầu của thế kỷ XX, vấn đề giá trị đã được bàn đến.
Trong cuốn Soka Kyoikugaku Taikei (Tổng luận về giao dục sáng tạo giá trị) được xuất bản năm 1930, nhà giáo dục Nhật Bản Tsunesaburo Makiguchi đã nêu lên quan điểm của mình về việc xây dựng một nền giáo dục tam phương. Mục đích 13 của nền giáo dục này là đào tạo cho học sinh những con người năng động, hạnh phúc, phát triển toàn diện và biết tạo ra giá trị. Để thực hiện nền giáo dục tam cương, T. Makiguchi đề cập đến phát triển giá trị nhân cách người giáo viên là: những phẩm chất đạo đức hơn người thường, có chí, lương tâm nghề nghiệp, kỹ nghệ giảng dạy, tận tụy với nghề, hết lòng vì người học….
Ông cũng đề xuất cải cách chương trình học theo sơ đồ ba nhánh gồm: kiến thức tổng quát, huấn luyện kỹ thuật – phương pháp giảng dạy, rèn luyện đạo đức [52] Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu đầu ngành của khoa học xã hội như Trần Văn Giàu(1980)[26], Nguyễn Văn Lê (2005)[46], Thái Duy Tuyên[89], Phạm Minh Hạc (2011)[33], Phan Huy Lê - Vũ Minh Giang (1994)[47], Phạm Minh Hạc (2007)[31],. đã tham gia bàn luận về giá trị. Tác giả Nguyễn Quang Uẩn đã cung cấp những cơ sở lý luận, phương pháp tiếp cận khoa học về giá trị có ý nghĩa trong quá trình xây dựng luận [91]. Các nhà nghiên cứu đầu ngành của khoa học xã hội như: Phan Huy Lê, Thái Duy Tuyên,.
ít nhiều đã tham gia bàn luận về giá trị. Trong đó, kết quả nghiên cứu của các công trình thuộc đề tài KX-07 với các tác giả Thái Duy Tuyên; Nguyễn Quang Uẩn; lý luận, phương pháp tiếp cận khoa học về giá trị có ý nghĩa trong quá trình xây dựng luận án. Quan điểm đổi mới của Đảng, Nhà nước Việt Nam và toàn thể xã hội về văn hóa, coi văn hóa là nền tảng tinh thần của đời sống xã hội, là mục tiêu và là động lực của sự phát triển, mặc dù trên bề mặt xã hội có vẻ sáo mòn, không mấy thực chất, nhưng thực tế thì khác. Bằng lối đi riêng của văn hóa, quan điểm đó đã xoay chuyển nhận thức, tạo nền cho văn hóa khởi sắc, kích thích sự hồi sinh của phần lớn những giá trị truyền thống trước đó còn bị bỏ quên, thậm chí bị kỳ thị, làm cho văn hóa Việt Nam trở lại với diện mạo bình thường của nó, nối được với quá khứ và rồi nhờ hội nhập mà bắt nhịp ngày càng sâu vào văn hóa thế giới, đóng góp được cho kho tàng văn hóa chung của cộng đồng thế giới[14].
Ngoài ra, các nghiên cứu, so sánh giá trị Đông - Tây (giá trị Châu Á - giá trị phương Tây) những năm gần đây của các nhà chính trị, các nhà nghiên cứu Hồ Sỹ Quý (2005) [68], Mahathia Mohamad, Đavit Hitcook, Tommy Koh, Dan Waters, 14 Trần Phong Lâm… đã bước đầu khái quát về các giá trị nổi bật của các dân tộc Đông Á, khẳng định vai trò nền tảng của các giá tri đạo đức trong đời sống tinh thần của họ. Nhà nghiên cứu Liên Xô V.Me-giuep cho rằng giá trị văn hóa được thể hiện như quan hệ xã hội nhất định, tồn tại khách quan, gắn bó với sự phát triển của nhân cách con người. Bởi thế các quan hệ xã hội là ch tiêu phát triển nhân cách và cũng có ngh a là giá trị văn hóa của nó. Nhà nghiên cứu người Đức Ec-Hac-Don cho rằng giá trị văn hóa như tổng thể các giá trị cuộc sống xã hội, là những động lực bên trong thúc đẩy con người vươn lên trong quá tr nh lao động, sản xuất, giáo dục, đào tạo [20].
Tác giả Lê Đức Phúc (1992) xem xét giá trị như một dạng quan hệ có ý ngh ã đặc biệt của chủ thể đối với khách thể, với mục đích thỏa mãn những nhu cầu và lợi ích của chủ thể: “Giá trị là cái có ý nghĩa đối xã hội, tập thể và cá nhân, phản ánh mối quan hệ chủ thể - khách thể được đánh giá xuất phát từ điều kiện lịch sử, xã hội thực tế và phụ thuộc vào trình độ phát triển nhân cách. Khi đã được nhận thức, đánh giá, lựa chọn, giá trị trở nên động lực thúc đẩy con người theo một xu hướng nhất định” [65]. Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII và đến nghị quyết 33 khóa XI của Đảng đã xác định mục tiêu xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Đồng thời Đảng chỉ ra 7 giá trị cơ bản của con người Việt Nam như: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, sáng tạo, trách nhiệm[51]. Nh n chung, những công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước đề cập đến giá trị và giá trị văn hóa với nhiều hướng nghiên cứu khác nhau, chủ yếu là nghiên cứu về giá trị và GTVH truyền thống, ngoài ra có nghiên cứu GTVH trong nhân cách, GTVH đạo đức, Nguyễn Duy Bắc (2007), Nguyễn Trọng Chuẩn (2008), Vũ 15 Thị Thanh (2008)[2],[8],[76] ….Dù ở hướng nghiên cứu nào, hầu hết các công tr nh nghiên cứu đều cho rằng, GTVH là sản phẩm của con người, của sự phát triển xã hội và văn hoá mỗi thời đại, tuy nhiên, khi hệ giá trị đã hình thành thì nó định hướng mục tiêu, phương thức và hành động của con người, nó tham gia điều tiết sự phát triển xã hội. Tuy nhiên, những công trình này chủ yếu nghiên cứu những tác động, định hướng đến SV, thanh niên nói chung mà chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến định hướng giá trị VHCN của SV chuyên ngành QTNL trong thời kỳ mới. Xu hướng thứ ba: Nghiên cứu văn hóa công nghiệp và giá trị văn hóa công nghiệp Những năm đầu của thế kỷ XX, có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa và giá trị VHCN trên các phương diện khác nhau.
Ở phương Tây có các tác giả như Mortimer.Macionis[52]… Trong mô hình công nghiệp hóa của Philippin, tác giả Jorge V.