Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE THÍCH UNG NGHE CUA SINH VIÊN CHUYÊN NGỮ CÔNG AN NHÂN DÂN 1. Tổng quan nghiên cứu về thích ứng nghề của sinh viên chuyên ngữ Công an nhân dân 1. Tổng quan các nghiên cứu về sự thích ứng nghề 1.
Tổng quan một số nghiên cứu về lý thuyết và các hướng tiếp cận thích ứng nghề Hoạt động nghề nghiệp là một trong những hoạt động trọng tâm của đời sống con người, chính bởi vậy, hoạt động này được nhiều tác giả quan tâm và triển khai nghiên cứu. Về mặt lý thuyết, các tác giả nước ngoài đã tập trung nghiên cứu từ lâu dé trả lời cho những vấn đề thực tiễn nghề nghiệp của từng giai đoạn bối cảnh xã hội khác nhau. Theo Savickas (2005), sự tập trung vào nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của hành vi nghề nghiệp có thể tổng hợp như sau: Giai đoạn đầu thế kỷ 20, các tác giả tập trung nghiên cứu, phát triển lý thuyết giải thích cho mô hình về sự phù hợp giữa con người và môi trường. Theo đó, hoạt động nghiên cứu đã tập trung giải quyết câu hỏi: làm thé nào dé người lao động phù hợp với công việc? Giai đoạn giữa thế kỷ 20, các tác giả đã chuyên trọng tâm nghiên cứu qua mô hình lý thuyết về phát triển nghề nghiệp.
Theo đó, hoạt động nghiên cứu tập trung vào giải quyết câu hỏi: Làm thế nào dé thăng tiến nghề nghiệp trong một tổ chức hoặc lĩnh vực nghề nghiệp? Giai đoạn bắt đầu thé ky 21, một câu hỏi mới đã được phat sinh từ sự chuyển dich sang nền kinh tế toàn cầu là: “Làm thế nào dé các cá nhân có thé thương thao trong quá trình thay đổi công việc trong suốt cuộc đời của mình mà không đánh mất ý thức về bản thân và bản sắc xã hội.” Các tác giả đã chuyển trọng tâm nghiên cứu từ phát triển nghề nghiệp sang thích ứng nghề. Lý thuyết xây dựng sự nghiệp của Savickas là lý thuyết nổi bật và được nhiều tác giả lựa chon làm lý thuyết nền tảng phục vụ nghiên cứu của mình. Lý thuyết xây dựng nghé nghiệp cung cấp một phương pháp tư duy dé trả lời cho câu hỏi: một cá nhân lựa chọn và sử dụng công việc như thế nào? Lý thuyết đưa ra một mô hình giả thích hành vi nghề nghiệp của chúng ta trong suốt vòng đời, cũng như cung cấp phương pháp và tài liệu cho các nhà tư van nghé nghiệp sử dụng trong quá trình hỗ trợ khách hàng đưa ra lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, hướng tới đạt được sự thành công và thỏa mãn trong công việc và cuộc sống. Dé nâng cao tính phố quát, toàn diện của lý thuyết, Savickas đã tập trung xây dựng và đối chiếu hành vi nghề nghiệp dựa trên ba góc độ tâm lý: sự khác biệt, sự phát triển và nguồn động lực.
Từ góc độ tâm lý học về sự khác biệt cá nhân, tác giả xem xét đặc trưng của các loại tính cách nghề nghiệp và những gì mà những người khác nhau thích làm. Từ quan điểm của tâm lý học phát triển, tác giả xem xét quá trình thích ứng tâm lý xã hội và làm thế nào các cá nhân ứng phó với các nhiệm vụ phát triển nghề nghiệp, chuyền đổi nghề nghiệp va sang chan trong công việc. Từ quan điểm của tâm lý học tường thuật, tác giả xem xét nguồn động lực mà các chủ đề cuộc sống (life themes) ảnh hưởng đến hành vi nghề nghiệp và tại sao mỗi cá nhân lại dung hòa công việc vào cuộc sống của họ theo những cách riêng biệt. Kết hợp ba góc độ tâm lý này cho phép các nhà tư vấn và nhà nghiên cứu khảo sát cách thức các cá nhân xây dựng sự nghiệp của họ bằng cách: 1) sử dụng các chủ đề cuộc sống dé tích hợp kha năng tự tổ chức nhân cách và tự mở rộng khả năng thích ứng nghề nghiệp thành một tông thé tự xác định thúc day công việc, 2) định hướng lựa chọn nghề nghiệp va 3) định hình sự điều chỉnh nghề nghiệp.
Lý thuyết xây dựng nghề nghiệp gồm 05 nội dung chính là: cơ sở lý luận; chủ đề cuộc sống: tinh cách nghề nghiệp; khả năng thích ứng nghề; và tư van nghé nghiệp. Khả năng thích ứng nghé nghiệp là nội dung trọng tâm trong lý thuyết xây dựng nghề nghiệp. Trong quá trình xây dựng sự nghiệp, cá nhân thực hiện một loạt các chuyên đổi từ trường học sang công việc, từ công việc này sang công việc khác và từ nghề nghiệp này sang nghề nghiệp khác. Lý thuyết xem xét sự thích ứng với những chuyền đổi nay thông qua năm loại hành vi chính trong một chu kỳ: định hướng, khám phá, thiết lập, quan lý và thánh thoi.
Khi bước vào một giai đoạn chuyển đổi, các cá nhân có thê thích ứng hiệu quả hơn nếu họ đáp ứng sự thay đổi về nhận thức của bản thân, tìm kiếm thông tin về công việc mới, sau đó là đưa ra quyết định sáng suốt, thử và điều chỉnh hành vi của bản thân phù hợp với yêu cầu công việc, quản lý vai trò tích cực và cuối cùng là thanh thoi khi đã làm chủ hoàn toàn công việc. Trong quá trình này, cá nhân bộc lộ khả năng thích ứng với hoàn cảnh, đồng thời cũng củng có, tích lũy kinh nghiệm và nâng cao nguồn lực ứng phó với các van đề không quen thuộc, phức tạp và không rõ ràng do các nhiệm vụ phát triển, chuyển đổi nghề nghiệp và chan thương trong công việc gây ra. Trên cơ sở quá trình này, lý thuyết đã nêu bật tập hợp các thái độ, niềm tin và năng lực cụ thé về khả năng thích ứng nghé nghiệp thông qua chuỗi thích ứng gồm: Sự sẵn sàng thích ứng, nguồn lực thích ứng, phản ứng thích ứng và kết quả thích ứng. Lý thuyết xây dựng sự nghiệp đã được các nhà khoa học sử dụng làm lý thuyết nền tang cho việc nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trên phạm vi nhiều quốc gia tại châu Á và châu Âu, cũng như Mỹ và các quốc gia khác như Canada, Nam Phi, Papua New Guinea, Uc, và Brazil.
Theo Johnston (2016), các công trình nghiên cứu về thích ứng nghề dựa trên lý thuyết của Savickas tập trung vào 04 hướng tiếp cận khác nhau: Thứ nhất, hướng tiếp cận về khả năng thích ứng nghề nghiệp như là một nguồn lực hỗ trợ các kết quả tích cực hay là dẫn đến một số phản ứng cụ thể trong quá trình phát triển nghề nghiệp của các cá nhân. Chang hạn như, nguồn lực thích ứng có tương quan tích cực với các kết quả về sự hài lòng như sự hài lòng với cuộc sống (Maggiori & cộng sự, 2013), sự hài lòng về sự nghiệp (Chan & Mai, 2015), lương và sự hài lòng về sự nghiệp (Guan & cộng sự, 2015), nguồn lực thích ứng cũng dự đoán các phản ứng thích ứng (kế hoạch nghề nghiệp, khó khăn trong việc quyết định nghề nghiệp, khám phá nghề nghiệp, và tự tin nghề nghiệp) 6 tháng sau (Hirschi & cộng sự, 2015); nguồn lực thích ứng nghề nghiệp quan trọng cho chất lượng cuộc sông (Soresi & cộng sự, 2012) và giảm căng thang công việc (Maggiori & cộng sự, 2013); một số nghiên cứu doc đã khám phá mối quan hệ giữa nguồn lực thích ứng nghề nghiệp và sự vui vẻ và sự chuyên nghiệp trong công việc (Johnston & cộng sự, 2015; Zacher & Griffin, 2015); khả năng thích ứng nghề có mối liên hệ đáng ké với sự sẵn sàng thích ứng, phản ứng thích ứng, kết quả thích ứng và đồng biến nhân khâu học (Rudolph, Lavigne, & Zacher, 2016). Thứ hai, hướng tiếp cận về khả năng thích ứng nghè nghiệp được sinh ra từ sự chuyên đổi nghề nghiệp, do đó, nó phát huy hiệu quả trong những hoàn cảnh có sự thay đối nghề nghiệp (ở cả những trường hợp có chủ đích và không có chủ đích) hoặc trường hợp nhiệm vụ có sự phát triển (đối mặt với các nhiệm vụ có mức độ khó khăn, phức tạp, yêu cầu cao hơn). Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khả năng thích ứng nghề nghiệp tương quan thuận với trải nghiệm chuyển đổi nghề nghiệp tích cực và giúp đối phó tốt hơn đối với những thay đôi nghề nghiệp giữa chừng (Ebberwein & cộng sự, 2004); những người thay đôi nghề nghiệp giữa chừng sử dụng học tập chính thức và không chính thức dé phát triển thêm kha năng thích ứng nghề nghiệp của ho (Brown & cộng sự, 2012).
Bên cạnh đó, cũng có công trình đã chỉ ra rằng, khả năng thích ứng của những người phụ nữ lớn tudi liên quan đến hoàn cảnh bên ngoài và trải nghiệm chủ quan nội tâm, qua đó cho thấy, tầm quan trọng của khả năng thích ứng nghề nghiệp không chỉ giới hạn ở các quá trình chuyên đổi công việc (MeMahon, Watson, & Bimrose, 2012). Thứ ba, hướng tiếp cận về khả năng thích ứng nghề như là một biến trung gian giữa các đặc điểm tính cách và các kết quả thích ứng: qua đó, khả năng thích ứng nghề đảm nhận vai trò như năng lực tự điều chỉnh, hỗ trợ quá trình tự điều chỉnh của cá nhân. Chắng hạn như, đánh giá mối tương quan giữa khả năng thích ứng nghề với các yếu tố mối bận tâm nghề nghiệp, định hướng mục tiêu nghề nghiệp và các hỗ trợ xã hội, đồng thời chỉ ra vai trò của khả năng thích ứng nghề giống như một yếu tố giúp cá nhân tự điều chỉnh giữa các đối tượng nghiên cứu được khảo sát (Creed, Fallon & Hood, 2009); nguồn lực thích ứng làm trung gian trong các mối quan hệ giữa sự hướng ngoại, hoạt động, sự nhạy cam, sự ti mi, va kết quả cam kết công việc (Rossier & cộng sự, 2012). Thứ tư, hướng tiếp cận về mối liên hệ giữa khả năng thích ứng nghề với đặc điểm tính cách.
Các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này như, khảo sát mối liên hệ giữa khả năng thích ứng nghề nghiệp và năm yếu tố nhân cách lớn đối với 908 người trưởng thành tai Brazil (Teixeira & cộng sự, 2012); mối liên hệ tích cực tồn tại giữa nguồn lực thích ứng nghề nghiệp và tận tâm, hướng ngoại, thoải mái, và sẵn lòng trai nghiệm (Rossier & cộng sự, 2012; Rusu & cộng sự, 2015; van Vianen & cộng sự, 2012). Cả Marco va Rossier đều chỉ ra rang, nguồn lực thích ứng nghề nghiệp liên quan rõ ràng nhất đến tính tận tâm và có mối liên hệ có ý nghĩa với các yếu tô còn lại.