Mở đầu; Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài; Chƣơng 2: Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu; Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu; Kết luận; Kiến nghị; Tài liệu tham khảo; Phụ lục 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Các quan điểm tiếp cận nghiên cứu vấn đề thích ứng trong tâm lý học 1. Quan điểm của các nhà Tâm lý học hành vi Jame Watson (1817-1958) - ngƣời sáng lập ra tâm lý học hành vi - tuyên bố rằng: khoa học tâm lý không thể lý giải đƣợc đời sống tâm hồn, nếu nhƣ không từ bỏ khái niệm mô tả các dòng ý thức. Tâm lý học dứt khoát phải lấy hành vi, tức là cái mà ta có thể quan sát, đo đạc đƣợc, dự đoán đƣợc làm đối tƣợng nghiên cứu.
Theo quan điểm của những ngƣời theo dòng phái này, về nguyên tắc, các quy luật và cơ chế thích ứng ở ngƣời giống động vật, chỉ khác là môi trƣờng sống của con ngƣời có thêm một số yếu tố mới nhƣ ngôn ngữ và các quy tắc xã hội. Sự thích ứng của con ngƣời có cơ chế và quy luật phức tạp hơn nhƣng không có sự khác biệt về chất so với động vật. Do đó, khi nghiên cứu sự thích ứng của con ngƣời vẫn phải giữ lại những khái niệm cơ bản của tiến hoá sinh học: thích nghi với môi trƣờng và sống còn, liên kết và phân hoá các chức năng của chúng, kinh nghiệm loài và cá thể. Sự thích ứng của con ngƣời chỉ phức tạp hơn của động vật về mặt số lƣợng.
Thừa kế quan điểm của các nhà tâm lý học động vật, J. Watson cho rằng để tồn tại, cá nhân có một hệ thống hành vi, ứng xử có đƣợc do học tập. Trong đó từng hành vi cụ thể có cơ sở là các kinh nghiệm, hành vi cũ và động lực là sự thích ứng. Đó là quá trình cá nhân học đƣợc những hành vi mới cho phép nó giải quyết những yêu cầu, những đòi hỏi của cuộc sống.
Sự kém thích ứng là không học đƣợc hoặc hành vi học đƣợc không đáp ứng đƣợc yêu cầu của môi trƣờng. Edward Chance Tolman, Clark Hull…khắc phục những mặt hạn chế của Watson bằng cách đƣa thêm vào những khái niệm: hành vi tạo tác (operant), hành vi học tập xã hội (social), hay hành vi học tập theo quan sát (observation)…Nói cách khác, họ đƣa các yếu tố xã hội vào để giải thích sự thích ứng tâm lý ở ngƣời. Lý thuyết hành vi hiện đại còn đƣợc phát triển theo hƣớng Tâm lý học nhận thức (cognitive behaviorison). Đại diện tiêu biểu cho hƣớng này là Walter Mischel, ông chú trọng đến vai trò nhận thức của con ngƣời trong quá trình thích ứng, đặc biệt là các kỹ xảo tinh thần bên cạnh các kỹ xảo hành vi.
Cùng với việc nhấn mạnh vai trò của yếu tố bên trong, ông đã phát hiện ra tính tích cực của chủ thể thích ứng. Đó không phải là quá trình thụ động nhƣ phái hành vi cổ điển quan niệm, mà có sự 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tƣơng quan giữa ý nghĩa bên trong với hành vi bên ngoài, và hành vi đƣợc điều chỉnh bởi ý nghĩa bên trong đó. Mặc dù chƣa vạch ra đƣợc bản chất đích thực của sự thích ứng tâm lý ở ngƣời, chủ nghĩa hành vi đã có những đóng góp nhất định vào việc giải quyết vấn đề. Họ đã chỉ ra mức độ thích ứng đầu tiên của con ngƣời là phản ứng trực tiếp với các kích thích của môi trƣờng và chỉ ra cơ chế hình thành hành vi thích ứng.
Quan điểm của các nhà tâm lý học nhân văn Các nhà tâm lý học nhân văn quan niệm: con ngƣời có nhu cầu hƣớng thiện, có lòng vị tha, sẵn sàng giúp đỡ ngƣời khác. Đó là động lực qui định hành vi và mục tiêu thích ứng của nhân cách. Họ quan niệm thích ứng là hoạt động tích cực của chủ thể ứng xử với bản thân và môi trƣờng xung quanh.Maslow (1908-1970) coi thích ứng là sự thể hiện đƣợc những cái vốn có của cá nhân trong những điều kiện sống nhất định. Sự không thích ứng chính là sự không đƣợc tự thể hiện, sẽ tạo ra xung đột và ảnh hƣởng tới sự phát triển nhân cách.
Tiền đề để tạo ra sự thích ứng là một hệ thống nhu cầu của nhân cách, đƣợc sắp xếp theo thứ bậc mà cao nhất là nhu cầu tự thể hiện - một nhu cầu bẩm sinh nhƣng có tính chất nhân văn, chỉ xuất hiện khi các nhu cầu bậc thấp đƣợc thoả mãn2. Mặc dù không phủ nhận vai trò của cái vô thức, bản năng (của phân tâm học) hay quá trình học tập (của chủ nghĩa hành vi), nhƣng Maslow có quan niệm khác về yếu tố quy định sự thích ứng. Theo ông, nhu cầu “tự thể hiện” mong muốn phát triển hết mức khả năng vốn có của bản thân và năng lực lựa chọn một cách có ý thức những mục tiêu hành động của nhân cách là yếu tố quyết định sự thích ứng của con ngƣời.Rogers (1902-1987) coi “tự thể hiện” là phạm trù cơ bản đối với thích ứng của nhân cách, con ngƣời luôn thể hiện mình. Nghĩa là, con ngƣời thích ứng đƣợc trong đời sống và tự ý thức, tự đánh giá là những phẩm chất điều khiển, điều chỉnh hành vi, làm cho cá nhân thích ứng với cuộc sống.
Tâm lý học nhân văn đã coi trọng tính tích cực, trọn vẹn và phẩm chất tự đánh giá của nhân cách trong quan hệ cá nhân – xã hội. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng biện pháp tác động đến sự thích ứng tâm lý nói chung và 2 A.Maslow (1963), Motivation and adjustment, USA 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thích ứng với hoạt động học tập nói riêng. Đó là tƣ tƣởng tiến bộ của trƣờng phái này. Quan điểm của các nhà Phân tâm học + Quan điểm phân tâm học cổ điển S.Freud (1856 -1939) xuất phát từ cách tiếp cận sinh học đối với tâm lý, theo đó, nhân cách là một cấu trúc tổng thể trọn vẹn với 3 thành tố “cái nó” (Id), “cái tôi” (ego), và cái “siêu tôi” (superego) có vai trò và chức năng khác nhau đối với đời sống của con ngƣời.
Để tồn tại, con ngƣời phải đạt đƣợc sự cân bằng, sự hài hoà giữa hai cái đối lập “cái nó” và cái “siêu tôi” – đó chính là sự thích ứng. Sự thích ứng là sự thoả mãn hợp lý trong những điều kiện xã hội nhất định. Sự phát triển “cái tôi” nhân cách là kết quả của sự thích ứng qua các giai đoạn khác nhau của đời sống cá thể. Lý thuyết phân tâm cổ điển của S.Freud xuất phát từ quan điểm sinh vật luận nên không phát hiện đƣợc bản chất xã hội - lịch sử của sự thích ứng ở con ngƣời.
Quan điểm phân tâm học mới Các nhà tâm lý học nhƣ : C.không hoàn toàn chấp nhận tƣ tƣởng của S. Theo họ, “cái tôi” có vai trò quan trọng trong sự thích ứng cá nhân, là chủ thể của hành vi chứ không chỉ là phƣơng thức thoả mãn “cái nó”. Họ quan niệm bản năng chỉ là một trong những yếu tố quy định sự thích ứng, thậm chí cho rằng xã hội là nội dung của sự thích ứng tâm lý cá nhân.Erkson còn nhấn mạnh “sự thích ứng tâm lý là sự thiết lập các mối quan hệ xã hội của các cá nhân với những ngƣời xung quanh”3 Nhƣ vậy, mặc dù chƣa giải thích đƣợc bản chất của sự thích ứng của con ngƣời, phân tâm học chứa đựng những điểm hợp lý cần đƣợc chú ý về mặt lý luận và thực tiễn của vấn đề. Đó là vai trò của vô thức, bản năng xung đột tâm lý trong quá trình thích ứng, hậu quả của việc thích ứng và cách thức giải toả hậu quả này.
Quan điểm tâm lý học nhận thức Theo J.Piaget (1896-1980) có hai loại hoạt động gắn liền với nhau: hoạt động tâm lý và hoạt động sinh học. Trong đó, hoạt động tâm lý có nguồn gốc sinh học. Cá thể chỉ tồn tại và phát triển trong mối tƣơng tác giữa cơ thể và môi trƣờng từ đó 3 E.Erikson (1967), Childhood and society, New York 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tạo ra sự cân bằng giữa cơ thể và môi trƣờng, và cuối cùng cơ thể thích ứng với môi trƣờng.Theo tác giả, thích ứng có 3 cấp độ: + Thích ứng sinh học (thích ứng vật chất) làm cho cơ thể bằng xƣơng bằng thịt tồn tại và phát triển có thể nhận thức trực tiếp qua các giác quan + Thích ứng tâm lý (thích ứng chức năng), nó có nguồn gốc sinh học + Thích ứng trí tuệ Piaget đã có những đóng góp quan trọng vào lý luận về sự thích ứng tâm lý ở con ngƣời và cơ chế phát triển của thích ứng nhận thức, về những yếu tố ảnh hƣởng đến nó. Tuy nhiên, Piaget vẫn coi con ngƣời là một thực thể thích nghi một cách thụ động với hoàn cảnh thông qua cái gọi là “Bảo đảm sự cân bằng”, ông chú ý đúng mức vai trò tích cực của con ngƣời với tƣ cách là một chủ thể xã hội.
Quan điểm của các nhà tâm lý học Mác- xít Ra đời từ những năm 20 của thế kỷ XX, trƣờng phái tâm lý học Mác -xít lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở thế giới quan và phƣơng pháp luận. Tâm lý học Mác- xít đã phê phán những sai lầm của các nhà tâm lý học thuộc các trƣờng phái khác. Trƣờng phái tâm lý học Mác-xít gắn liền với những nhà tâm lý học nhƣ: L. Vƣgotxki khẳng định: “Con ngƣời có một hình thức thích nghi mới và đây là cơ chế cân bằng chủ yếu của cơ thể với môi trƣờng, dạng thức hành vi này nảy sinh trên cơ sở các tiền đề sinh vật nhất định, nhƣng đã vƣợt ra ngoài phạm trù sinh vật, tạo nên một hệ thống hành vi có chất lƣợng khác và theo một tổ chức mới” (12, tr.
Phƣơng thức thích ứng chủ đạo ở ngƣời là thích ứng theo nguyên tắc dấu hiệu và nguyên tắc này không có ở loài vật. Quá trình tín hiệu hóa phản ánh mối quan hệ tự nhiên đảm bảo cho cơ thể đáp lại các kích thích của môi trƣờng, còn quá trính dấu hiệu hóa cho phép con ngƣời có khả năng tạo ra một loại cân bằng với môi trƣờng để biến đổi môi trƣờng và biến đổi hành vi của chính mình bằng hành động tích cực của chủ thể. Hành vi đó chính là hoạt động thực tiễn của con ngƣời. Bằng việc phát hiện ra cơ chế hình thành và điều khiển hành vi ở cá nhân, ông đã 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.