CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ THỊ TRƯỜNG HÓA CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG 1. Những công trình khoa học đã công bố liên quan trực tiếp đến thị trường hóa chi trả dịch vụ môi trường 1. Nhóm các công trình nghiên cứu về dịch vụ môi trường và chi trả dịch vụ môi trường Vấn đề ô nhiễm và suy thoái môi trường hiện nay đã trở thành vấn đề nóng không chỉ của một quốc gia mà trên toàn thế giới. Sự ảnh hưởng của nó không loại trừ một cá nhân, một tổ chức, một quốc gia nào.
Bởi vậy, bảo vệ môi trường hiện nay mang tính toàn cầu và được rất nhiều các tác giả đề cập đến. Có nhiều công trình nghiên cứu về ô nhiễm môi trường và bảo vệ môi trường. Ở đây tác giả chỉ ra một số công trình nghiên cứu mà tác giả được tiếp cận và cho rằng rất có ích khi bàn đến vấn đề bảo vệ môi trường. Nói đến vấn đề môi trường (tự nhiên), trước hết cần phải xem xét nó trong mối quan hệ biện chứng với xã hội mà cụ thể hơn là con người.
Trong đó môi trường không chỉ là không gian sống mà còn là nơi cung cấp cho con người những phương tiện sinh sống. Ngược lại, con người cải tạo môi trường cho phù hợp với nhu cầu của mình nhưng song song với đó con người lại làm cho môi trường bị tàn phá và ngày càng ô nhiễm nghiêm trọng. Trong cuốn Một số vấn đề xã hội và nhân văn trong việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường ở Việt Nam (2001) do TS. Hà Huy Thành chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, các tác giả đã phân tích về mối quan hệ giữa con người và môi trường cùng một số thực trạng của vấn đề ô nhiễm môi trường nói chung.
Trong đó tác giả đã dành một thời lượng lớn để phân tích sự ảnh hưởng của làn sóng văn minh công nghiệp, của sự hình thành nền kinh tế thị trường hiện đại, của sự gia tăng dân số đến vấn đề môi trường. Đặc biệt, nội dung cuốn sách đề cập đến một số vấn đề về phong tục, tập quán, luật pháp, đạo đức sinh thái và văn hóa môi trường trong việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Theo đó, từ góc nhìn xã hội nhân văn, chỉ một mình luật pháp khó có thể giải quyết được vấn đề môi 11 trường – tài nguyên. Vấn đề là cần huy động sức mạnh của một hệ thống: luật pháp, đạo đức, văn hóa môi trường, kết hợp đồng bộ giữa tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thức xã hội của từng người dân trong công tác bảo vệ môi trường.
Cùng quan điểm trên, trong cuốn Môi trường và con đường phát triển (2011), PGS.TS Nguyễn Đắc Hy nhấn mạnh rằng an ninh sinh thái quốc gia và sinh quyển tùy thuộc vào các chính sách phát triển của con người, các thiết chế và quản trị xã hội của quốc gia và cộng đồng toàn cầu…song hệ lụy bao trùm từ nền tảng của sinh thái nhân văn, ở đó văn hóa ứng xử trong khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên với bảo vệ môi trường trong phát triển, “Văn minh sinh thái là cội nguồn cho phát triển hạnh phúc của nhân loại” [29, Tr. Một điều đáng lưu ý trong công trình tương đối đồ sộ của tác giả là đã tập hợp những nguyên lý cơ bản về tự nhiên, về kinh tế và triết học trong sự vận động của các quy luật phát triển, các kinh nghiệm quốc tế và những bài học trong thực tiễn ở Việt Nam. Tác giả đã đề dẫn từ những nguyên lý cơ bản của các học thuyết về các quy luật của tự nhiên, xã hội của nền văn minh nhân loại trong phát triển, trong đó các giá trị về vốn tự nhiên, tài sản tài nguyên thiên nhiên và vốn trí tuệ cùng các nguồn nhân lực khoa học, kỹ thuật và văn hóa của con người được khai thác và sử dụng cho phát triển với những thành công và thất bại trong quá trình phát triển của các quốc gia, của nhân loại thế giới. Đặc biệt trong công trình của mình, PGS.TS Nguyễn Đắc Hy đã sử dụng phương pháp biện chứng một cách hiệu quả.
Theo đó, tác giả nghiên cứu biện chứng về thời gian của sự phát triển, sự phát triển con người trong kinh tế, xã hội với hệ thống tự nhiên. Phương pháp biện chứng được tác giả rút ra từ những suy tư từ nguyên lý triết học về quan hệ giữa tự nhiên với con người, các quy luật của tự nhiên với các quy luật trong kinh tế và xã hội…đã được soi sáng trong vật lý học Newton, hóa học Men đê lê ép, xã hội của Ăng ghen và Các Mác, thuyết tiến hóa của Darwin, những nguyên lý cơ bản về kinh tế của Adam Smith, thuyết tương đối của Albert Einstein… Với tham vọng và hiểu biết của mình, tác giả đã trình một khối lượng khổng lồ các lý thuyết được biện dẫn của nhiều tác giả trên thế giới và những phân tích định lượng bằng công cụ toán học, nhất là toán học định lượng trong quan hệ phát triển của sinh thái mà bản chất là quan 12 hệ kinh tế với các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Điều đó làm cho cuốn sách trở thành một tài liệu đắt giá cho bất cứ một nhà nghiên cứu nào muốn tìm hiểu về môi trường trong sự phát triển bền vững nhưng cũng làm cho cuốn sách tương đối khó theo dõi. Bảo vệ môi trường hiện nay là một nhiệm vụ cấp bách là một vấn đề đã được khẳng định.
Có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề ô nhiễm môi trường trong đó các tác giả đi tìm kiếm những nguyên nhân của thực trạng ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm môi trường ở Việt Nam nói riêng. Đó là do sự ảnh hưởng của làn sóng văn minh công nghiệp, do một số vấn đề về phong tục tập quán, lối sống của dân cư, phương thức và thói quen tiêu dùng, do hiệu lực quản lý Nhà nước về môi trường thấp… Từ đó các tác giả cũng đi đến xu hướng tìm kiếm giải pháp để bảo vệ môi trường nói chung. Trong đó hầu hết các tác giả đều đề cập tới việc huy động sức mạnh của một hệ thống: luật pháp, đạo đức, văn hóa môi trường, kết hợp đồng bộ giữa tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thức xã hội của từng người dân trong công tác bảo vệ môi trường. Một điểm đáng lưu ý khi đề cập đến việc giải quyết thực trạng môi trường là phải giải quyết các vấn đề cấp bách: thứ nhất là vấn đề công nghệ, thứ hai là vấn đề tài chính, thứ ba là vấn đề ý thức của các tổ chức, cá nhân và cả từ những nhà quản lý.
Cùng với đó, các tác giả cũng bàn tới các công cụ để bảo vệ môi trường mà đặc biệt là công cụ tài chính (thuế, phí, giấy phép xả thải, …). Các công cụ này nhằm tạo ra những khuyến khích kinh tế[8, Tr.106]: - Thay đổi trực tiếp các mức giá cả hoặc chi phí; - Thay đổi gián tiếp các mức giá cả hoặc chi phí thông qua những biện pháp tài chính hoặc thuế khóa, ngân sách; - Tạo lập và hỗ trợ thị trường. Trong đó chi trả dịch vụ môi trường không chỉ được coi là một công cụ tài chính nhằm tạo lập nguồn tài chính lâu dài cho bảo vệ môi trường còn được coi là một công cụ để tạo lập thị trường trong lĩnh vực môi trường nhằm đưa môi trường trở thành một lĩnh vực kinh tế. Chi trả dịch vụ môi trường (PES) không phải là một vấn đề quá mới đối với 13 nhiều nước trên thế giới.
Ngay từ những năm 90 của thế kỷ XX, nhiều nước đã nhận thức và thực hiện các chương trình chi trả dịch vụ môi trường và trên thực tế nó đã mang lại hiệu quả, thậm chí là không thua kém các chương trình phát triển và bảo tồn tích hợp (ICDPs). Đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước (đặc biệt là các tác giả ủng hộ nền kinh tế tự do) nghiên cứu vấn đề này, trong đó nổi lên là các công trình tiêu biểu sau: Tác giả Sven Wunder với bài viết “Payments for Environmental services: Some nuts and bolds” (Chi trả dịch vụ môi trường – Một số vấn đề chính), đăng trong Báo cáo thường niên số 42 (CIFOR Occasional Paper No.42, năm 2005), đã bàn sâu khái niệm chi trả dịch vụ môi trường. Theo Ông, một giao dịch chi trả dịch vụ môi trường phải đảm bảo là: 1. Một giao dịch tự nguyện.
Một dịch vụ môi trường được quy định rõ ràng 3. Đang được một người mua dịch vụ môi trường (tối thiểu một) mua. Từ một nhà cung cấp dịch vụ môi trường (tối thiểu một) 5. Nếu và chỉ nếu các nhà cung cấp dịch vụ môi trường đảm bảo cung cấp dịch vụ môi trường lâu dài [78,Tr.
Như vậy, để có được một giao dịch chi trả dịch vụ môi trường đúng nghĩa thì phải đảm bảo cả 5 nguyên tắc trên. Đặc biệt, tác giả đã đưa ra ba cách phân biệt chi trả dịch vụ môi trường, gồm: chi trả dịch vụ môi trường theo vùng (area) - so với các chương trình dựa vào sản phẩm, chi trả dịch vụ môi trường theo cộng đồng (public) đối với các chương trình mang tính cá nhân, chi trả dịch vụ môi trường theo tính chất hạn chế sử dụng (use-restricting) đối với các chương trình xây dựng tài sản. Đây là một điểm rất đáng lưu ý vì tùy theo đặc điểm mỗi địa phương sẽ có một loại chi trả dịch vụ môi trường phù hợp (cũng có những nơi sử dụng kết hợp nhiều loại chi trả dịch vụ môi trường khác nhau). Vậy làm thế nào để đánh giá một chi trả dịch vụ môi trường? Sven Wunder đã phân tích một cách khá sâu sắc và đưa ra những minh họa bằng thực tiễn tại Costa Rica, Nicarawa… Đó là những minh chứng cho việc cần thiết xây dựng một đường cơ sở đối chứng trong đánh giá chi trả dịch vụ môi trường.
Theo 14 tác giả: Nếu bạn đi chợ và mua một con cá để nấu bữa trưa, cuối cùng món ăn đó có thể có hương vị tốt hơn hoặc tồi tệ hơn dự kiến- nhưng về cơ bản bạn biết trước những gì bạn mua. Nếu bạn mua một dịch vụ môi trường, có thể những gì bạn nhận được từ việc chi trả sẽ ít hơn rất nhiều những gì dự kiến.