Đặt vấn đề Việt Nam là một nước có nền kinh tế đang trên đà phát triển, trong đó sản xuất nông nghiệp là ngành kinh tế trọng tâm mà Đảng và Nhà nước ta quan tâm hàng đầu. Chăn nuôi không chỉ đáp ứng về nhu cầu sử dụng, khai thác, tiêu thụ hàng ngày của mọi người dân trong xã hội. Chăn nuôi lợn đã có lịch từ lâu ở nước ta, mang lại nhiều lợi ích kinh tế cao, xóa đói, giảm nghèo, là bộ phận quan trọng đóng góp vào cơ cấu kinh tế lớn trong nghành chăn nuôi nói riêng, sản xuất nông nghiệp nói chung. Trong năm 2022 với bối cảnh hội nhập quốc tế cũng như chịu tác động từ các yếu tố dịch bệnh, áp lực chi phí sản xuất và đầu ra không ổn định là những thách thức không nhỏ mà ngành chăn nuôi phải đối mặt.
Tuy vậy, BNN và PTNT đã tích cực chỉ đạo các đơn vị liên quan phối hợp chặt chẽ với các địa phương thực hiện nghiêm các biện pháp kiểm soát, phòng ngừa và ngăn chặn dịch bệnh trên đàn vật nuôi nên chăn nuôi phát triển ổn định. Trong thời gian hiện nay ngành chăn nuôi vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức đó là dịch bệnh xảy ra còn phổ biến gây nhiều thiệt hại. Chăn nuôi theo hướng công nghiệp thì các bệnh đường sinh sản thường sảy ra ở giai đoạn sau khi sinh, đặc biệt sảy ra nhiều là trên giống nái ngoại, sau đó đến lợn nái lai, thấp nhất là ở giống lợn nội. Khả năng thích nghi điều kiện khí hậu nước ta trên giống lợn nhập ngoại còn rất kém.
Mặt khác, trong quá trình sinh đẻ lợn nái bị tổn thương niêm mạc tử cung làm cho các loại vi khuẩn Streptococcus, Staphylococcus, E.coli… có cơ hội xâm nhập vào gây một số bệnh như: Viêm âm đạo, viêm tử cung. đây là những bệnh đe dọa, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của lợn mẹ. Nếu như không phát hiện sớm, điều trị kịp thời, bệnh có thể kế phát từ viêm tử cung gây ra là 2 viêm vú, mất sữa, rối loạn sinh sản, chậm sinh, vô sinh, viêm phúc mạc dẫn đến nhiễm trùng huyết và chết. Viêm đường sinh dục đặc biệt là bệnh viêm tử cung trên lợn nái có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, chất lượng đàn lợn giống.
Đồng thời còn ảnh hưởng đến chất lượng sinh sản nói riêng và hiệu quả toàn ngành chăn nuôi lợn nói chung. Xuất phát từ thực tế sản suất của trại, chúng em tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Theo dõi bệnh viêm tử cung, viêm vú trên lợn nái GF 24 nuôi tại trang trại LinkFarm Hòa Bình thuộc tập đoàn Green Feed ”. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục đích của đề tài - Tuân thủ quy trình chăn nuôi, chăm sóc, quản lý tại trại.
- Nắm được loại thức ăn, định mức ăn và cách cho ăn dành cho từng loại lợn nái qua các giai đoạn nuôi dưỡng. - Vận dụng kiến thức chuyên ngành trong việc chẩn đoán một số bệnh hay xảy ra trên đàn lợn nái sinh sản, đưa ra biện pháp phòng và điều trị bệnh. Yêu cầu của chuyên đề - Đánh giá tình hình, phát triển chăn nuôi tại trại lợn LinkFarm Hoà Bình - Tuân thủ quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng phù hợp cho đàn lợn nái và lợn con qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển. - Áp dụng các kiến thức chuyên ngành vào việc chẩn đoán, phòng và điều trị bệnh trên đàn lợn.
3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên và cơ sở vật chất của trang trại 2. Điều kiện tự nhiên - Vị trí địa lý Trại lợn LinkFarm Hòa Bình được xây dựng từ năm 2020 trên khu vực tại thôn Chỉ Bái - xã Hùng Sơn - huyện Kim Bôi - tỉnh Hòa Bình.
Trại nằm trong địa bàn của tỉnh Hòa Bình là một tỉnh thuộc miền núi phía Tây Bắc có núi đồi trùng điệp mênh mông. Có nhiều danh lam thắng cảnh, người dân hiền hòa chịu thương chịu khó. Trang trại được xây dựng cách xa khu dân cư đông đúc hạn chế được sự lây lan dịch bệnh, giao thông thuận tiện. Phía Bắc huyện Kim Bôi giáp với hai huyện Lương Sơn - huyện Kỳ Sơn Phía Tây huyện giáp với thành phố Hòa Bình - huyện Cao Phong Phía Nam của huyện giáp hai huyện Lạc Sơn - huyện Yên Thủy Phía Đông huyện Kim Bôi giáp huyện Lạc Thủy - huyện Lương Sơn.
- Địa hình và khí hậu Huyện Kim Bôi có địa hình toàn vùng không đồng nhất, độ cao trung bình khoảng 310m. Nơi cao, nơi thấp chênh lệch nhau quá lớn và bị chia cắt mạnh. Do địa hình bị chia cắt phức tạp, địa bàn huyện được hình thành trên nền đất cổ. Ngoài ra còn có đất phù sa sông suối, các loại đất feralit và đất xói mòn sỏi đá.
Huyện ở vị trí giáp trung du, miền núi và đồng bằng nên chịu ảnh hưởng bởi mùa khô, mùa mưa rõ nhất. Mùa mưa, mưa nhiều, độ ẩm cao bắt đầu từ tháng 4 - 10 của năm. Mùa khô (lạnh, hanh, mưa ít), được kéo dài từ tháng 11 - 3 năm sau. 4 - Giao thông Huyện Kim Bôi luôn quan tâm đầu tư, cải tạo đường xá, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế xã hôi tại địa phương.
Trong năm 2022 chịu ảnh hưởng của dịch bệnh nền kinh tế của huyện còn gặp nhiều khó khăn xong huyện đã bố trí vốn làm mặt đường bê tông xi măng làm thay đổi bộ mặt miền quê, kết nối giao thông đô thị và phát triển kinh tế - xã hội của huyện đồng đều giữa các vùng. Cơ cấu tổ chức của trang trại Cơ cấu của trang trại được tổ chức như sau Trại gồm có các bộ phận: trưởng trại, phó trại, trưởng khu, bảo vệ, kế toán, nhà bếp, kỹ thuật trại, bảo trì… - Trưởng trại: 01 - Phó trại: 01 - Kế toán: 02 - Bảo vệ: 02 - Nhà bếp: 02 - Bảo trì: 02 - Trưởng khu 02: 1 trưởng khu đẻ và 1 trưởng khu mang thai - Kỹ thuật trại: 21 nhân viên kỹ thuật trại và 7 sinh viên thực tập Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra thành 2 khu: đầu của khu sản xuất là khu đẻ, tiếp đến là khu mang thai gồm các nhà mang thai, nhà nọc, nhà phát triển hậu bị và phòng lab. Nhân viên kỹ thuật luôn tâm huyết, yêu nghề và có tinh thần trách nhiệm cao đã thúc đẩy được sự phát triển của trang trại. Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều được kỹ thuật viên trú trọng đến, làm cẩn thận.
Cơ sở vật chất của trang trại Trang trại LinkFam Hòa Bình nằm ở khu vực đồi núi thuộc xóm Chỉ Bái, xã Hùng Sơn, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình. Được xây dựng và chịu 5 trách nhiệm thi công bởi công ty AgriVina sau đó công ty LinkFarm – tập đoàn Geen Feed thuê lại, trại được đi vào hoạt động từ năm 2021. Tổng diện tích của trại là hơn 10ha gồm khu nhà ở, khu chăn nuôi, hầm biogas, đất trồng rau, cây ăn quả và các các công trình phụ khác trong đó khu sản xuất chiếm diện tích lên đến 7,5 ha. Khu sản xuất được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 2500 nái cơ bản, bao gồm: nhà phát triển hậu bị, nhà đực giống, phòng sản xuất tinh, nhà mang thai, nhà nái đẻ, chuồng cai sữa và nhà cách ly.
Ngoài ra trại có các công trình phục vụ công tác chăn nuôi như kho thuốc, nhà sát trùng, silo thức ăn. Hệ thống xây dựng chuồng khép kín hoàn toàn. Các dãy chuồng đều có lắp đặt hệ thống quạt gió và hệ thống giàn mát, có quạt thông gió để hút mùi, hầm biogas và hầm hủy xác để xử lý chất thải và xác động vật. Mỗi chuồng đều được lắp hệ thống nước máy tự động ở các dãy chuồng để cho lợn uống nước.
Phòng sản xuất tinh (phòng lab): là nơi pha chế tinh dịch, phòng tuyệt đối vô trùng, cách ly bên ngoài, có đầy đủ trang thiết bị để pha chế tinh dịch. Phòng sản xuất tinh được xây dựng cạnh chuồng heo nọc để tiện trong việc khai thác tinh. Khu mang thai gồm 4 nhà mang thai lớn với 8 dãy ở mỗi nhà. Đây là nơi nuôi lợn nái mang thai, lợn nái cai sữa và hậu bị để thành thục sẽ được đưa về đây để chờ phối.
Khu đẻ gồm 11 nhà, mỗi nhà có 2 dãy, có thiết kế các ô chuồng dành riêng cho nái đẻ và nuôi con gồm 1 ô dành cho lợn mẹ và 2 ô có diện tích khác nhau dành cho lợn con. Nái trước khi đẻ từ 7- 10 ngày thì sẽ được chuyển từ nhà mang thai lên đến đây và sau khi lợn con cai sữa thì nái sẽ được chuyển về nhà mang thai chờ phối. Khu nhà cai sữa gồm 1 chuồng, có 2 dãy. Đây là nơi nuôi dưỡng lợn con cai sữa sau khi tách mẹ.
Lợn con sau khi tách mẹ sẽ được đuổi xuống chuồng cai sữa. 6 Khu nhà cách ly và phát triển hậu bị gồm 2 chuồng, mỗi chuồng 5 ô. Những con lợn đực và nái hậu bị khi được nhập từ trại giống về sẽ được nuôi cách ly tại khu chuồng cách ly 1 tháng để tiêm vaccine và theo dõi xem có các bệnh tật hay không, sau đó sẽ chuyển vào khu phát triển hậu bị trong khu sản xuất để chờ thành thục về tính và quan sát lên giống. Hoạt động của trang trại, chăn nuôi giống lợn nái GF 24, nái sinh sản và tạo ra các con thương phẩm chất lượng tốt.
Khai thác tinh giống bán cho các trại lợn tư nhân nhỏ, lẻ và hộ gia đình chăn nuôi có nhu cầu sử dụng. Tổng lao động phục vụ cho chăn nuôi là khoảng 40 người, gồm có nhân viên kỹ thuật, kế toán, bảo vệ và bảo trì… Trại được thiết kế theo kiểu chuồng kín, nền có tấm đan (trừ các khu nuôi nhốt chung) nuôi theo phương thức chăn nuôi công nghiệp. Các nhà sản xuất đều có hệ thống giàn mát và quạt gió. Nguồn nước sử dụng tại trại là nước giếng khoan đã dân lên bể chứa.
Nước được dẫn vào để sử dụng cho lợn uống, rửa chuồng, cất nước pha chế tinh. Hệ thống máng ăn tại trại sử dụng silo cám cho ăn theo phương thức bán tự động. Cám từ silo tổng được đặt ở bên ngoài chuồng sẽ được máy tải vào trong các hộp định lượng. Nhân viên kĩ thuật cho heo ăn bằng cách sử dụng bảng điều khiển để cám từ hộp định lượng đổ vào máng ăn.