Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TẾ - CƠ SỞ TÌM HIỂU THEN TÀY Ở VÕ NHAI, THÁI NGUYÊN 1. Tổng quan về tộc người Tày ở Võ Nhai, Thái Nguyên 1. Vài nét về người Tày ở Việt Nam 1. Nguồn gốc lịch sử Dân tộc Tày có số dân đông đứng thứ hai sau dân tộc Kinh ở Việt Nam.
Địa bàn cư trú chủ yếu tập trung ở phía Đông Bắc Việt Nam. Tộc người Tày là một trong những cư dân bản địa sống lâu đời nhất ở nước ta. Song nguồn gốc của tộc người này cũng nằm trong quy luật phức tạp về nguồn gốc cũng như các tộc người khác. Trong cuốn Văn hóa truyền thống Tày - Nùng, các tác giả viết: “Về phương diện cội nguồn lịch sử người Tày, người Nùng vốn thuộc chung một nhóm Âu Việt, trong khối Bách Việt mà địa bàn cư trú là miền Bắc Việt Nam và miền Hoa Nam, Trung Quốc” [39, tr.
Như vậy ngay từ buổi dựng nước dân tộc Tày là một thành viên trong đại gia đình các dân tộc anh em. Dân số và địa bàn cư trú Người Tày là một dân tộc thiểu số, có số dân 1.392 người, chủ yếu cư trú tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc. Người Tày chủ yếu cư trú tập trung ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lào Cai. Họ chủ yếu làm ruộng, tập trung dân cư trong các thung lũng, cánh đồng ở các thượng lưu sông Kỳ Cùng, sông Cầu, sông Lô.
Đất phù sa phân bố dọc các thung lũng sông, các bồn địa giữa các núi nhằm tạo điều kiện để phát triển một nền nông nghiệp với nhiều ngành nghề khác nhau. Từ xa xưa, người Tày có truyền thống làm lúa nước và lúa nương, biết thâm canh và áp dụng các biện pháp thủy lợi vào tưới tiêu ruộng đồng. Với các điều kiện địa lí tự nhiên thuận lợi, người Tày ở các vùng miền cư trú của Việt Nam có cơ hội để phát triển nền kinh tế đa ngành nghề như nông 7 download by : skknchat@gmail.com nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp để góp phần vào sự phát triển kinh tế chung của nước ta tiến dần vào hội nhập với kinh tế thế giới. Cùng với xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, việc giữ gìn bản sắc văn hóa của người Tày đang là vấn đề cần đặt ra.
Bởi vậy, mỗi chúng ta với tư cách là thế hệ trẻ của tương lai cần phải biết giữ gìn bản sắc văn hóa của người Tày nói riêng và văn hóa dân tộc nói chung để nhằm mang đến những giá trị văn hóa truyền lại cho những thế hệ sau. Người Tày ở Võ Nhai, Thái Nguyên 1. Điều kiện tự nhiên Võ Nhai là một huyện thuộc miền núi phía Đông Bắc tỉnh Thái Nguyên, với diện tích tự nhiên của Võ Nhai là 845,1km2. Phía đông giáp tỉnh Lạng Sơn; phía tây giáp huyện Đồng Hỷ và huyện Phú Lương (tỉnh Thái Nguyên); phía nam giáp huyện Đồng Hỷ (tỉnh Thái Nguyên) và huyện Yên Thế (tỉnh Bắc Giang); phía bắc giáp Bắc Kạn.
Địa hình Võ Nhai tương đối phức tạp, chủ yếu là đồi núi và sông suối, hình thành các vùng rõ rệt: Vùng núi cao, gồm 6 xã phía Bắc: Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Cúc Đường, Thần Sa, Vũ Chấn. Đây là vùng rừng núi phong phú, đa dạng với nhiều danh thắng đẹp và di tích khảo cổ như: Thác Mưa Rơi, di tích khảo cổ học Thần Sa, tam giác mạch ở Lũng Luông. Vùng gò đồi, gồm 5 xã phía Nam: Tràng Xá, Liên Minh, Dân Tiến, Bình Long và Phương Giao. Nơi đây bị chia cắt bởi những dòng sông, khe suối tạo nên địa hình đi lại khó khăn.
Vùng chuyển tiếp giữa vùng đồi núi thấp ở phía Nam và vùng núi cao ở phía Bắc gồm các xã và thị trấn dọc quốc lộ 1B: La Hiên, Lâu Thượng, Phú Thượng và Thị trấn Đình Cả. Đây được coi là trung tâm văn hóa của huyện với nhiều di tích lịch sử và danh thắng đẹp như di tích lịch sử đồn Đình Cả, suối Mỏ Gà, hang Phượng Hoàng. 8 download by : skknchat@gmail.com Khí hậu Võ Nhai khắc nghiệt hơn so với những địa phương khác trong huyện và là nơi rừng thiêng nước độc, nguồn nước tưới tiêu của huyện chủ yếu được lấy từ hai con sông đó là sông Dong và sông Nghinh Tường. Nhiệt độ trung bình hằng năm 22,9oC.
Bởi vậy mà Võ Nhai có thế mạnh phát triển các loại cây trồng nhiệt đới, cận nhiệt đới, nhất là các loại cây ăn quả. Thiên nhiên bốn mùa tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội cũng như đã tạo nên những đặc trưng riêng về văn hóa vật chất lẫn tinh thần của đồng bào nơi đây. Đời sống kinh tế xã hội * Dân số Những phát triển của khảo cổ học tại di chỉ Thần Sa đã khẳng định Võ Nhai là một trong những cái nôi của người nguyên thủy, họ sống chủ yếu bằng săn bắt hái lượm. Trải qua hàng nghìn năm, dân số tăng lên, nguồn thức ăn cạn dần, bởi vậy mà họ đã đi dọc các triền sông, khe suối, mở rộng địa bàn cư trú.
Ngược lại cũng có những bộ phận khác di cư đến sinh sống, trở thành chủ thể của vùng đất này. Võ Nhai gồm 14 xã và 1 thị trấn, với dân số là 64.241 người (2009), gồm 8 thành phần dân tộc khác nhau: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Chay (Cao Lan, Sán Chí), H’Mông, Mường, Hoa. Võ Nhai là huyện có dân số trẻ, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động lớn, giá nhân công rẻ. Đây là thế mạnh của huyện khi kêu gọi đầu tư phát triển các ngành kinh tế trên địa bàn.
Mặc dù thuộc nhiều thành phần dân tộc, phong tục tập quán có nhiều nét khác nhau, trình độ phát triển cũng không đồng đều, thiên nhiên khắc nghiệt. Bởi vậy nhân dân các dân tộc trong huyện luôn có sự đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau để tạo nên một cộng đồng thống nhất. * Kinh tế Kinh tế Võ Nhai đã có những chuyển biến tích cực và nhanh chóng. Hiện nay, thành phần kinh tế nông - lâm nghiệp vẫn chiếm vị trí chủ đạo trong cơ cấu 9 download by : skknchat@gmail.com kinh tế của huyện.
Trong nông nghiệp, đã chuyển hướng mạnh mẽ về cơ cấu giống, cơ cấu mùa vụ theo hướng phát triển hàng hóa gắn với thị trường, đa dạng hóa cây trồng. Do vậy năng suất và sản lượng đều đạt kết quả cao. Diện tích đất tự nhiên chủ yếu là đồi núi bởi vậy mà ngành lâm nghiệp vẫn là thế mạnh của huyện Võ Nhai. Hiện nay, rừng nguyên sinh trên địa bàn huyện các loại gỗ và thú rừng quý hiếm còn lại không nhiều.
Vì vậy vấn đề đặt ra ở đây là cần có sự trồng mới các rừng cây để chống hạn hán, lũ quét. Công nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp trên địa bàn huyện đang dần phát triển. Những chuyển biến về kinh tế là nhờ sự đóng góp của đồng bào người Tày ở Võ Nhai càng khẳng định những bước phát triển và sự nhận thức của người dân. Đưa kinh tế huyện ngày một phát triển để góp phần vào sự phát triển kinh tế tỉnh Thái Nguyên nói riêng và kinh tế cả nước nói chung.
Trong nông nghiệp, cây lúa là cây trồng chính đồng thời là lương thực chính. Trước đây, họ canh tác chủ yếu dựa vào thiên nhiên nhưng đến nay do khoa học kĩ thuật phát triển nên họ canh tác dựa vào sự tác động của con người. Ngoài cây lúa là cây lương thực chính thì các loại hoa màu khác như ngô, khoai, sắn. là cây lương thực phụ.
Ngành chăn nuôi của huyện tương đối ổn định chủ yếu là trâu, bò, lợn, gà, dê. Đặc biệt hiện nay có một số hộ thả đàn dê trên các vách núi đá mang lại giá trị kinh tế cao, nâng cao mức sống của người dân. So với một số dân tộc khác trong tỉnh, người Tày có nghề thủ công gia đình. Đó là những sản phẩm thủ công do chính bàn tay họ làm ra với nhiều màu sắc và hoa văn đẹp, tinh tế.
Đặc biệt những sản phẩm đó có mặt hầu hết trong các hoạt động mưu sinh và hoạt động văn hóa. Từ thời xa xưa đời sống kinh tế của người Tày ở Thái Nguyên chủ yếu là săn bắt để làm nguồn thức ăn chính giúp họ tồn tại. Các loại thú rừng, rau, củ, quả,… không chỉ dùng làm thức ăn chính mà còn làm dược liệu để chữa bệnh. Chợ phiên ở Võ Nhai được họp theo quy ước thống nhất của người dân.
Đồng thời là nơi mua bán trao đổi các sản phẩm có giá trị nhằm đảm bảo nhu cầu cuộc sống hằng ngày của người dân. Hầu hết các mặt hàng đều do họ tự tay chăn 10 download by : skknchat@gmail.com nuôi, làm ra để đảm bảo chất lượng. Đồng thời chợ còn là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng sau những ngày lao động vất vả. Trong quan hệ đơn vị xã hội của người Tày vẫn luôn là bản.
Đó là đơn vị cư trú của nhiều dòng họ, lấy quan hệ láng giềng làm cơ sở, mỗi bản làng đều có thiết chế riêng dựa trên thiết chế chung của Nhà nước. Người Tày ở Thái Nguyên thường tập trung dân cư ở những vùng giáp ranh giữa rừng và đồng ruộng. Các bản của người Tày ở đây thường tựa lưng vào núi rừng, hướng xuống thung lũng để thuận tiện cho việc đi lại và tránh được thiên tai lũ lụt. Quy mô trong các bản làng của người Tày đa số với quy mô vừa và nhỏ, mỗi bản thường có từ 25 đến 60 hộ gia đình.
Bên cạnh đó có những bản có khoảng 100 nóc nhà. Trong bản có nhiều dòng họ cùng chung sống và có quan hệ láng giềng rất thân thiết và tình cảm với nhau. Đa số các dòng họ của người Tày có nguồn gốc Tày cổ, nhưng cũng có những dòng họ là gốc Kinh bị Tày hóa. Đặc biệt ở mỗi bản đều có một người đứng đầu giúp người dân bảo vệ quyền lợi, do người dân bầu ra được gọi là trưởng xóm, trưởng bản.
Cũng như người Kinh thì chế độ sở hữu của người Tày nơi đây cũng gồm hai hình thức: Sở hữu công cộng và sở hữu tư nhân. Sở hữu công cộng thường ở trong phạm vi thôn bản bao gồm toàn bộ rừng núi, sông suối và tài nguyên ngoài ra còn có các công trình công cộng như đường sá, cầu cống, nhà văn hóa. Sở hữu tư nhân gồm: tư liệu sản xuất, đất đai, nương rãy. Ngoài ra còn các tài sản khác như nhà cửa, vốn kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân.