Luận văn Thạc sĩ: Then Tày ở Võ Nhai, Thái Nguyên của Nguyễn Thị Hà, ĐHSP 2017

Tìm hiểu Then Tày ở Võ Nhai, Thái Nguyên qua luận văn thạc sĩ năm 2017 của Nguyễn Thị Hà. Nghiên cứu văn hóa, tín ngưỡng dân tộc Tày.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

129
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

prefix.1. Lí do chọn đề tài

prefix.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

prefix.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

prefix.4. Mục đích nghiên cứu

prefix.5. Nhiệm vụ nghiên cứu

prefix.6. Phương pháp nghiên cứu

prefix.7. Những đóng góp của luận văn

prefix.8. Cấu trúc luận văn

1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TẾ - CƠ SỞ TÌM HIỂU THEN TÀY Ở VÕ NHAI, THÁI NGUYÊN

1.1. Tổng quan về tộc người Tày ở Võ Nhai, Thái Nguyên

1.1.1. Vài nét về người Tày ở Việt Nam

1.1.1.1. Nguồn gốc lịch sử
1.1.1.2. Dân số và địa bàn cư trú

1.1.2. Người Tày ở Võ Nhai, Thái Nguyên

1.1.2.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.2.2. Đời sống kinh tế xã hội

1.2. Một số vấn đề lí luận về Then Tày

1.2.1. Khái niệm Then

1.2.2. Nguồn gốc của Then

1.2.3. Khái quát giá trị văn hóa, văn học của Then

1.3. Then Tày ở Võ Nhai, Thái Nguyên

1.3.1. Những nét sơ lược về lịch sử phát triển. Diện mạo và thực trạng

2. CHƯƠNG 2. CÁC DẠNG THỨC THEN CỦA NGƯỜI TÀY Ở VÕ NHAI, THÁI NGUYÊN

2.1. Then cầu mong

2.2. Then bắc cầu xin hoa

2.3. Then giải hạn

2.4. Then mừng thọ

2.5. Một số loại Then khác

2.6. Then chữa bệnh

2.7. Then tang ma

2.8. Then cấp sắc

3. NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT TRONG THEN CỦA NGƯỜI TÀY Ở VÕ NHAI, THÁI NGUYÊN

3.1. Nội dung trong Then Tày ở Võ Nhai, Thái Nguyên

3.1.1. Khuyên răn con người sống có đạo đức

3.1.2. Phản ánh hiện thực xã hội của người Tày trong quá khứ

3.1.3. Ca ngợi tình yêu thiên nhiên

3.2. Nghệ thuật trong Then Tày ở Võ Nhai, Thái Nguyên

3.2.1. Các biện pháp tu từ

3.2.2. Thời gian và không gian nghệ thuật

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Then Tày Võ Nhai Tìm Hiểu Văn Hóa Tín Ngưỡng

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc có những nét văn hóa độc đáo. Thái Nguyên, với làn điệu hát Then, không chỉ là sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật quần chúng, mà còn là tín ngưỡng. Then Tày ở Thái Nguyên, chủ yếu do người cúng bái sử dụng, chưa có công trình nào đi sâu tìm hiểu về nội dung và hình thức nghệ thuật của Then Tày ở Võ Nhai. Là người con sinh sống và giảng dạy Ngữ văn ở Võ Nhai, nơi có nhiều dân tộc thiểu số, việc tìm hiểu về Then ngay chính quê hương là việc làm có ý nghĩa nhằm gìn giữ và phát huy những nét đẹp truyền thống của dân tộc Tày nơi đây. Bên cạnh đó việc tìm hiểu Then Tày ở Võ Nhai - Thái Nguyên còn nhằm tìm ra những nét đặc sắc riêng biệt về nghi lễ hát Then giữa các xã trong huyện, giữa các huyện trong tỉnh Thái Nguyên để góp phần vào việc bảo tồn, gìn giữ loại hình nghi lễ hát Then của tỉnh Thái Nguyên nói riêng và Việt Nam nói chung. Chính vì vậy, việc nghiên cứu về Then TàyVõ Nhai, Thái Nguyên là vô cùng cần thiết để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa Tày nơi đây.

1.1. Dân Tộc Tày ở Võ Nhai Nguồn Gốc và Địa Bàn Cư Trú

Dân tộc Tày có số dân đông thứ hai sau dân tộc Kinh ở Việt Nam. Địa bàn cư trú chủ yếu tập trung ở phía Đông Bắc Việt Nam. Tộc người Tày là một trong những cư dân bản địa sống lâu đời nhất ở nước ta. Trong cuốn Văn hóa truyền thống Tày - Nùng, các tác giả viết: “Về phương diện cội nguồn lịch sử người Tày, người Nùng vốn thuộc chung một nhóm Âu Việt, trong khối Bách Việt mà địa bàn cư trú là miền Bắc Việt Nam và miền Hoa Nam, Trung Quốc”. Người Tày chủ yếu cư trú tập trung ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lào Cai. Họ chủ yếu làm ruộng, tập trung dân cư trong các thung lũng, cánh đồng ở các thượng lưu sông Kỳ Cùng, sông Cầu, sông Lô.

1.2. Khái Niệm Then Tày Tổng Quan Giá Trị Văn Hóa và Văn Học

Then là loại hình diễn xướng dân gian tổng hợp gồm ca nhạc, múa, diễn trò. Theo người Tày, Then được hiểu là Thiên, chỉ trời. Về nguồn gốc có nhiều ý kiến khác nhau song đa phần cùng nhận định: hát Then có xuất xứ từ Cao Bằng khi nhà Mạc thất sủng. Hầu hết trong các nghi lễ cúng của người Tày đều có hát Then. Hát Then không chỉ đơn thuần là một loại hình âm nhạc hay diễn xướng dân gian mà còn có sự kết hợp chặt chẽ với tín ngưỡng. Trên cơ sở nghiên cứu và qua các ý kiến tham khảo của các nhà nghiên cứu và qua khảo sát thực tế chúng tôi có thể đưa ra cách hiểu về Then như sau: Then là một hình thức văn hóa tín ngưỡng có từ xa xưa trong đời sống của người Tày. Nội dung Then phản ánh những vấn đề liên quan đến đời sống xã hội của người Tày trong quá khứ. Nghệ thuật Then là sự tổng hợp thiêng liêng của nghi lễ với lời hát, điệu múa, âm nhạc, hội họa và lời ca nhằm đưa con người tới được những bí ẩn của thế giới tâm linh với mục đích giải trí.

II. Thách Thức Bảo Tồn Then Tày Thực Trạng và Giải Pháp

Hiện nay, ở địa bàn Võ Nhai đang tồn tại hai dòng Then đó là Then cổ và Then hiện đại. Then cổ được một số ít nghệ nhân và những người làm Then lưu giữ hành nghề và đang có nguy cơ mai một và bị thất truyền. Trong Then cổ đa số ngôn ngữ chủ yếu là chữ Tày cổ khó đọc, khó dịch ra đúng nghĩa, khó diễn xướng. Chính bởi vậy mà chỉ có những nghệ nhân có tuổi và được cha ông truyền lại mới có thể hiểu được. Việc bảo tồn những lời Then cổ đang gặp nhiều khó khăn vì hầu hết những thế hệ trẻ đều đi làm xa nên không có đội ngũ kế thừa và gìn giữ. Như vậy, những lời Then cổ sẽ ngày càng bị lãng quên cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Để bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, cần có sự quan tâm của chính quyền địa phương và cộng đồng.

2.1. Then Cổ Võ Nhai Nguy Cơ Mai Một và Nỗ Lực Bảo Tồn

Then cổ được một số ít nghệ nhân và những người làm Then lưu giữ hành nghề và đang có nguy cơ mai một và bị thất truyền. Trong Then cổ đa số ngôn ngữ chủ yếu là chữ Tày cổ khó đọc, khó dịch ra đúng nghĩa, khó diễn xướng. Chính bởi vậy mà chỉ có những nghệ nhân có tuổi và được cha ông truyền lại mới có thể hiểu được. Việc bảo tồn những lời Then cổ đang gặp nhiều khó khăn vì hầu hết những thế hệ trẻ đều đi làm xa nên không có đội ngũ kế thừa và gìn giữ.

2.2. Then Hiện Đại Sự Thích Ứng và Vai Trò Trong Cộng Đồng

Còn thế hệ trẻ hiện nay chủ yếu diễn xướng là dòng Then hiện đại đó là những bài hát Then được viết bằng tiếng Kinh. Then hiện đại chủ yếu là những khúc hát khích lệ tinh thần người dân, xua tan phiền muộn, cực nhọc, vất vả trong cuộc sống. Loại Then này chủ yếu được dùng trong các nghi lễ, các dịp hội họp, các ngày lễ lớn trong năm. Tuy nhiên dòng Then hiện đại không phải là đối tượng nghiên cứu chính, nhưng nó cũng góp phần vào gìn giữ giá trị văn hóa và những lời hát Then của huyện Võ Nhai.

III. Cách Thực Hành Nghi Lễ Then Tày Cầu Hoa Giải Hạn Mừng Thọ

Trong hát Then mỗi làn điệu Then được sắp xếp theo dạng thức nhất định. Then có nhiều tác dụng chữa bệnh, giải hạn, cầu bình an, thể hiện một nét văn hoá đa dạng của dân tộc Tày. Then Tày ở Võ Nhai, Thái Nguyên tồn tại với nhiều thể loại, dạng thức giống như Then ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn.

3.1. Then Cầu Mong Nghi Lễ Xin Hoa Giải Hạn Chúc Thọ Người Tày

Theo quan niệm của người Tày thì những cặp vợ chồng sống với nhau lâu ngày mà chưa có con là do mẹ Hoa trên trời chưa ban xuống, hay những đứa trẻ sinh ra không nuôi được đến mời thầy về để xin hoa, xin đổi kiếp số để đứa trẻ đó dễ nuôi. Gia chủ đến nhà thầy xem, nếu số mệnh của gia chủ rơi vào cung hạn thì phải làm lễ giải hạn hoặc làm lễ cầu hoa để xin mẹ Hoa trên trời cho gia chủ được như ý nguyện. Sau đó sẽ nhờ thầy chọn ngày lành tháng tốt để làm lễ giải hạn tại gia đình.

3.2. Then Chữa Bệnh Nghi Lễ Trục Tà Gọi Hồn Vía Người Ốm Đau

Xuất phát từ quan niệm của đồng bào Tày ở Võ Nhai, Thái Nguyên. Khi nhà có người ốm đau bệnh tật, người ta đón thầy Then về gọi hồn vía cho người ốm đau và phải đem theo lễ vật để “chuộc vía” mong người ốm khỏi bệnh. Trong lễ Then chữa bệnh gia chủ phải chuẩn bị rất nhiều đồ lễ: 9 con gà trống được luộc chín, một con lợn khoảng 40kg, vịt. chuẩn bị đồ lễ để đặt ở bàn thờ của thầy Then, bàn Thánh và đặc biệt phải chuẩn bị một bàn thờ đặt ngoài sân.

IV. Hướng Dẫn Chi Tiết Nghi Lễ Then Bắc Cầu Xin Hoa Chuẩn Nhất

Lễ bắc cầu xin hoa là một trong những hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian mang tính nghi lễ - một loại hình tổng hợp có sự kết hợp nhiều hình thức diễn xướng văn học, âm nhạc, múa, trang trí mĩ thuật và mang đậm yếu tố văn hóa. Nghi lễ bắc cầu xin hoa miêu tả cuộc hành trình diễn ra vừa thực vừa ảo, trải qua bao khó khăn để có phú quý.

4.1. Các Bước Chuẩn Bị Lễ Vật và Không Gian Diễn Xướng

Gia chủ đến nhà thầy xem, nếu số mệnh của gia chủ rơi vào cung hạn thì phải làm lễ giải hạn hoặc làm lễ cầu hoa để xin mẹ Hoa trên trời cho gia chủ được như ý nguyện. Sau đó sẽ nhờ thầy chọn ngày lành tháng tốt để làm lễ giải hạn tại gia đình. Lễ cầu hoa được tổ chức ở nhà gia chủ, nơi đồng ruộng, ngã ba đường. Mọi người quây quần ở giữa gian nhà, xung quanh thầy Then để cùng thưởng thức những điệu Then mượt mà. Đầu tiên, được tiến hành ở ngoài đồng ruộng - nơi ngã ba đường. Trong nghi lễ này, gia chủ chuẩn bị một con lợn, một con gà, một con vịt còn sống.

4.2. Quy Trình Thực Hiện Nghi Lễ Trình Tổ Tiên Đến Cầu Hoa

Thầy Then trình báo với tổ tiên, thần thánh về tên tuổi và các thành viên, công việc của gia chủ. Ở bước này thầy Then sẽ trình bày nguyện vọng về mong muốn của gia chủ, đó là mong cặp vợ chồng trẻ có con đàn cháu đống, những đứa trẻ ốm yếu sẽ khỏi bệnh. Tiếp đó thầy Then dùng cây hương để làm bùa phép để buổi lễ được tiếp tục. Cây hương được coi như là sứ giả thay mặt người bên dương trình báo với thần thánh, tổ tiên bên âm về lí do thỉnh cầu và mong muốn của gia chủ. Các ban được thầy Then mời đến dự lễ cầu hoa gồm có tổ tiên, Hoa Vương Thánh Mẫu, các tướng, các quan, Táo quân, Nam Tào Bắc Đẩu cùng các thần trông coi gia súc.

4.3. Hoàn Tất Nghi Lễ Trình Thánh Mẫu và Qua Lò Than

Gia chủ chuẩn bị hai hình nhân màu trắng tượng trưng cho con trai, màu vàng tượng trưng cho con gái. Khi đã trình với Thánh Mẫu xong và đánh quẻ âm dương thì thầy Then sẽ niệm thần chú khẩn xin để mong Thánh Mẫu ban phước cho cặp vợ chồng được sinh con đẻ cái. Còn đối với việc cầu xin cho đứa trẻ khỏi bệnh tật thì chỉ cần quẻ âm dương một mặt ngửa một mặt úp có nghĩa là đứa trẻ đã được Thánh Mẫu ban phước khỏi bệnh. Khi quân Then về tới nhà thầy Then cho chuẩn bị một chậu lửa (lò than). Sau đó lần lượt các thành viên trong gia chủ đi qua lò than để mong cái xấu đi cái tốt ở lại, vợ chồng sinh con được như mong muốn, đứa bé được trở lại nhân gian.

V. Giá Trị Nghệ Thuật Trong Then Tày Âm Nhạc Múa Trang Trí

Trong nghi lễ Then có sự kết hợp của nhiều hình thức cũng như các dạng Then khác. Nghi lễ Then miêu tả quá trình thầy Then làm lễ. Trong lời Then sử dụng nhiều hình ảnh mang tính biểu tượng như hoa, cây lêu và nhiều yếu tố gần gũi với cuộc sống của người lao động. Thể thơ chủ yếu là thể thơ hỗn hợp, năm chữ, bẩy chữ của người Tày. Ngôn ngữ chủ yếu là chữ Tày, đôi khi xen cả những câu tiếng Kinh và tiếng Hán.

5.1. Vai Trò của Đàn Tính và Xóc Nhạc Trong Diễn Xướng Then

Thầy Then sử dụng đàn tính, xóc nhạc (tùy thuộc vào từng thầy Then mà sử dụng xóc nhạc khác nhau, có thể là một bộ xóc nhạc, có thể là đến bốn bộ xóc nhạc). Khi ngồi trước khói hương nghi ngút là lúc thầy Then đã trở thành người khác bởi vậy mà thầy có thể đàn hát những khúc hát Then.

5.2. Ý Nghĩa của Trang Phục Đạo Cụ Trong Nghi Lễ Then

Trang trí mĩ thuật trong nghi lễ Then là ở trang phục của thầy Then, đội mũ hoặc đội khăn khi làm lễ. Trang phục của thầy rất nhiều màu sắc khác nhau và may bằng vải, có thể là sự kết hợp của hai màu đỏ và đen hoặc có thể kết hợp các mầu đỏ, vàng. Quạt của thầy màu đen được trang trí rất đơn giản. Toàn bộ đồ lễ là những vật dụng được dùng hằng ngày của gia chủ có sự kết hợp của nhiều màu sắc khác nhau của giấy màu: nón, ngựa, trâu, bò, hình nhân, nhà, cầu, cuốc, bừa, nàng hầu nàng hạ.

VI. Tương Lai Then Tày Phát Huy Giá Trị Trong Đời Sống Hiện Đại

Nghi lễ Then đã góp phần làm cho đời sống tinh thần của người Tày thêm phong phú, đáp ứng yêu cầu hưởng thụ văn hóa của đồng bào. Điều đó đồng nghĩa các giá trị văn hóa - nghệ thuật trong Then cũng đang bị mai một. Chính quyền địa phương cần có hướng để bảo tồn những giá trị văn hóa và bỏ đi những tập tục lạc hậu góp phần vào sự phát triển chung của văn hóa dân tộc.

6.1. Vai Trò của Cộng Đồng Trong Việc Gìn Giữ Văn Hóa Then

Để giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc Tày nói riêng và của các dân tộc trong cộng đồng người Việt Nam nói chung đang là vấn đề đặt ra để mọi người cùng chung tay vào việc bảo tồn những giá trị văn hóa không phải là việc dễ dàng. Bởi vậy, việc bảo tồn những nét sinh hoạt độc đáo của người Tày đòi hỏi một chính sách nhất quán của địa phương đối với các dân tộc thiểu số. Để những giá trị văn hóa đó được lưu giữ và truyền lại cho các thế hệ sau.

6.2. Ứng Dụng Công Nghệ và Truyền Thông Để Quảng Bá Then Tày

Cần có những phương pháp quảng bá phù hợp để đưa văn hóa Then Tày đến gần hơn với công chúng. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng các trang web, kênh youtube giới thiệu về Then Tày cũng sẽ góp phần quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của Then Tày.

02/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TẾ - CƠ SỞ TÌM HIỂU THEN TÀY Ở VÕ NHAI, THÁI NGUYÊN 1. Tổng quan về tộc người Tày ở Võ Nhai, Thái Nguyên 1. Vài nét về người Tày ở Việt Nam 1. Nguồn gốc lịch sử Dân tộc Tày có số dân đông đứng thứ hai sau dân tộc Kinh ở Việt Nam.

Địa bàn cư trú chủ yếu tập trung ở phía Đông Bắc Việt Nam. Tộc người Tày là một trong những cư dân bản địa sống lâu đời nhất ở nước ta. Song nguồn gốc của tộc người này cũng nằm trong quy luật phức tạp về nguồn gốc cũng như các tộc người khác. Trong cuốn Văn hóa truyền thống Tày - Nùng, các tác giả viết: “Về phương diện cội nguồn lịch sử người Tày, người Nùng vốn thuộc chung một nhóm Âu Việt, trong khối Bách Việt mà địa bàn cư trú là miền Bắc Việt Nam và miền Hoa Nam, Trung Quốc” [39, tr.

Như vậy ngay từ buổi dựng nước dân tộc Tày là một thành viên trong đại gia đình các dân tộc anh em. Dân số và địa bàn cư trú Người Tày là một dân tộc thiểu số, có số dân 1.392 người, chủ yếu cư trú tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc. Người Tày chủ yếu cư trú tập trung ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lào Cai. Họ chủ yếu làm ruộng, tập trung dân cư trong các thung lũng, cánh đồng ở các thượng lưu sông Kỳ Cùng, sông Cầu, sông Lô.

Đất phù sa phân bố dọc các thung lũng sông, các bồn địa giữa các núi nhằm tạo điều kiện để phát triển một nền nông nghiệp với nhiều ngành nghề khác nhau. Từ xa xưa, người Tày có truyền thống làm lúa nước và lúa nương, biết thâm canh và áp dụng các biện pháp thủy lợi vào tưới tiêu ruộng đồng. Với các điều kiện địa lí tự nhiên thuận lợi, người Tày ở các vùng miền cư trú của Việt Nam có cơ hội để phát triển nền kinh tế đa ngành nghề như nông 7 download by : skknchat@gmail.com nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp để góp phần vào sự phát triển kinh tế chung của nước ta tiến dần vào hội nhập với kinh tế thế giới. Cùng với xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, việc giữ gìn bản sắc văn hóa của người Tày đang là vấn đề cần đặt ra.

Bởi vậy, mỗi chúng ta với tư cách là thế hệ trẻ của tương lai cần phải biết giữ gìn bản sắc văn hóa của người Tày nói riêng và văn hóa dân tộc nói chung để nhằm mang đến những giá trị văn hóa truyền lại cho những thế hệ sau. Người Tày ở Võ Nhai, Thái Nguyên 1. Điều kiện tự nhiên Võ Nhai là một huyện thuộc miền núi phía Đông Bắc tỉnh Thái Nguyên, với diện tích tự nhiên của Võ Nhai là 845,1km2. Phía đông giáp tỉnh Lạng Sơn; phía tây giáp huyện Đồng Hỷ và huyện Phú Lương (tỉnh Thái Nguyên); phía nam giáp huyện Đồng Hỷ (tỉnh Thái Nguyên) và huyện Yên Thế (tỉnh Bắc Giang); phía bắc giáp Bắc Kạn.

Địa hình Võ Nhai tương đối phức tạp, chủ yếu là đồi núi và sông suối, hình thành các vùng rõ rệt: Vùng núi cao, gồm 6 xã phía Bắc: Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Cúc Đường, Thần Sa, Vũ Chấn. Đây là vùng rừng núi phong phú, đa dạng với nhiều danh thắng đẹp và di tích khảo cổ như: Thác Mưa Rơi, di tích khảo cổ học Thần Sa, tam giác mạch ở Lũng Luông. Vùng gò đồi, gồm 5 xã phía Nam: Tràng Xá, Liên Minh, Dân Tiến, Bình Long và Phương Giao. Nơi đây bị chia cắt bởi những dòng sông, khe suối tạo nên địa hình đi lại khó khăn.

Vùng chuyển tiếp giữa vùng đồi núi thấp ở phía Nam và vùng núi cao ở phía Bắc gồm các xã và thị trấn dọc quốc lộ 1B: La Hiên, Lâu Thượng, Phú Thượng và Thị trấn Đình Cả. Đây được coi là trung tâm văn hóa của huyện với nhiều di tích lịch sử và danh thắng đẹp như di tích lịch sử đồn Đình Cả, suối Mỏ Gà, hang Phượng Hoàng. 8 download by : skknchat@gmail.com Khí hậu Võ Nhai khắc nghiệt hơn so với những địa phương khác trong huyện và là nơi rừng thiêng nước độc, nguồn nước tưới tiêu của huyện chủ yếu được lấy từ hai con sông đó là sông Dong và sông Nghinh Tường. Nhiệt độ trung bình hằng năm 22,9oC.

Bởi vậy mà Võ Nhai có thế mạnh phát triển các loại cây trồng nhiệt đới, cận nhiệt đới, nhất là các loại cây ăn quả. Thiên nhiên bốn mùa tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội cũng như đã tạo nên những đặc trưng riêng về văn hóa vật chất lẫn tinh thần của đồng bào nơi đây. Đời sống kinh tế xã hội * Dân số Những phát triển của khảo cổ học tại di chỉ Thần Sa đã khẳng định Võ Nhai là một trong những cái nôi của người nguyên thủy, họ sống chủ yếu bằng săn bắt hái lượm. Trải qua hàng nghìn năm, dân số tăng lên, nguồn thức ăn cạn dần, bởi vậy mà họ đã đi dọc các triền sông, khe suối, mở rộng địa bàn cư trú.

Ngược lại cũng có những bộ phận khác di cư đến sinh sống, trở thành chủ thể của vùng đất này. Võ Nhai gồm 14 xã và 1 thị trấn, với dân số là 64.241 người (2009), gồm 8 thành phần dân tộc khác nhau: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Chay (Cao Lan, Sán Chí), H’Mông, Mường, Hoa. Võ Nhai là huyện có dân số trẻ, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động lớn, giá nhân công rẻ. Đây là thế mạnh của huyện khi kêu gọi đầu tư phát triển các ngành kinh tế trên địa bàn.

Mặc dù thuộc nhiều thành phần dân tộc, phong tục tập quán có nhiều nét khác nhau, trình độ phát triển cũng không đồng đều, thiên nhiên khắc nghiệt. Bởi vậy nhân dân các dân tộc trong huyện luôn có sự đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau để tạo nên một cộng đồng thống nhất. * Kinh tế Kinh tế Võ Nhai đã có những chuyển biến tích cực và nhanh chóng. Hiện nay, thành phần kinh tế nông - lâm nghiệp vẫn chiếm vị trí chủ đạo trong cơ cấu 9 download by : skknchat@gmail.com kinh tế của huyện.

Trong nông nghiệp, đã chuyển hướng mạnh mẽ về cơ cấu giống, cơ cấu mùa vụ theo hướng phát triển hàng hóa gắn với thị trường, đa dạng hóa cây trồng. Do vậy năng suất và sản lượng đều đạt kết quả cao. Diện tích đất tự nhiên chủ yếu là đồi núi bởi vậy mà ngành lâm nghiệp vẫn là thế mạnh của huyện Võ Nhai. Hiện nay, rừng nguyên sinh trên địa bàn huyện các loại gỗ và thú rừng quý hiếm còn lại không nhiều.

Vì vậy vấn đề đặt ra ở đây là cần có sự trồng mới các rừng cây để chống hạn hán, lũ quét. Công nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp trên địa bàn huyện đang dần phát triển. Những chuyển biến về kinh tế là nhờ sự đóng góp của đồng bào người Tày ở Võ Nhai càng khẳng định những bước phát triển và sự nhận thức của người dân. Đưa kinh tế huyện ngày một phát triển để góp phần vào sự phát triển kinh tế tỉnh Thái Nguyên nói riêng và kinh tế cả nước nói chung.

Trong nông nghiệp, cây lúa là cây trồng chính đồng thời là lương thực chính. Trước đây, họ canh tác chủ yếu dựa vào thiên nhiên nhưng đến nay do khoa học kĩ thuật phát triển nên họ canh tác dựa vào sự tác động của con người. Ngoài cây lúa là cây lương thực chính thì các loại hoa màu khác như ngô, khoai, sắn. là cây lương thực phụ.

Ngành chăn nuôi của huyện tương đối ổn định chủ yếu là trâu, bò, lợn, gà, dê. Đặc biệt hiện nay có một số hộ thả đàn dê trên các vách núi đá mang lại giá trị kinh tế cao, nâng cao mức sống của người dân. So với một số dân tộc khác trong tỉnh, người Tày có nghề thủ công gia đình. Đó là những sản phẩm thủ công do chính bàn tay họ làm ra với nhiều màu sắc và hoa văn đẹp, tinh tế.

Đặc biệt những sản phẩm đó có mặt hầu hết trong các hoạt động mưu sinh và hoạt động văn hóa. Từ thời xa xưa đời sống kinh tế của người Tày ở Thái Nguyên chủ yếu là săn bắt để làm nguồn thức ăn chính giúp họ tồn tại. Các loại thú rừng, rau, củ, quả,… không chỉ dùng làm thức ăn chính mà còn làm dược liệu để chữa bệnh. Chợ phiên ở Võ Nhai được họp theo quy ước thống nhất của người dân.

Đồng thời là nơi mua bán trao đổi các sản phẩm có giá trị nhằm đảm bảo nhu cầu cuộc sống hằng ngày của người dân. Hầu hết các mặt hàng đều do họ tự tay chăn 10 download by : skknchat@gmail.com nuôi, làm ra để đảm bảo chất lượng. Đồng thời chợ còn là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng sau những ngày lao động vất vả. Trong quan hệ đơn vị xã hội của người Tày vẫn luôn là bản.

Đó là đơn vị cư trú của nhiều dòng họ, lấy quan hệ láng giềng làm cơ sở, mỗi bản làng đều có thiết chế riêng dựa trên thiết chế chung của Nhà nước. Người Tày ở Thái Nguyên thường tập trung dân cư ở những vùng giáp ranh giữa rừng và đồng ruộng. Các bản của người Tày ở đây thường tựa lưng vào núi rừng, hướng xuống thung lũng để thuận tiện cho việc đi lại và tránh được thiên tai lũ lụt. Quy mô trong các bản làng của người Tày đa số với quy mô vừa và nhỏ, mỗi bản thường có từ 25 đến 60 hộ gia đình.

Bên cạnh đó có những bản có khoảng 100 nóc nhà. Trong bản có nhiều dòng họ cùng chung sống và có quan hệ láng giềng rất thân thiết và tình cảm với nhau. Đa số các dòng họ của người Tày có nguồn gốc Tày cổ, nhưng cũng có những dòng họ là gốc Kinh bị Tày hóa. Đặc biệt ở mỗi bản đều có một người đứng đầu giúp người dân bảo vệ quyền lợi, do người dân bầu ra được gọi là trưởng xóm, trưởng bản.

Cũng như người Kinh thì chế độ sở hữu của người Tày nơi đây cũng gồm hai hình thức: Sở hữu công cộng và sở hữu tư nhân. Sở hữu công cộng thường ở trong phạm vi thôn bản bao gồm toàn bộ rừng núi, sông suối và tài nguyên ngoài ra còn có các công trình công cộng như đường sá, cầu cống, nhà văn hóa. Sở hữu tư nhân gồm: tư liệu sản xuất, đất đai, nương rãy. Ngoài ra còn các tài sản khác như nhà cửa, vốn kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ