MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Theo Laszlo (2011), trong hai thập niên gần đây, một loạt biến động hoặc có thể dự kiến (toàn cầu hóa, tiến bộ công nghệ, khan hiếm thực phẩm và nguyên liệu…) hoặc xảy ra b t ngờ (biến đổi khí hậu, dịch bệnh, khủng hoảng tín dụng, kinh tế thoái trào…). Trong ối cảnh diễn biến phức tạp đó uộc các doanh nghiệp dù kinh doanh loại hình nào và phạm vi hoạt động ra sao cũng phải có những tính toán thay đổi tƣ duy chiến lƣợc và mô hình phát triển của mình. Và đó là sự thay đổi t t yếu, do dù doanh nghiệp đã có truyền thống lâu đời (IBM, Coca Cola, P&G…), hay các công ty nhỏ và mới thành lập, để có thể tăng trƣởng, sống còn, và tồn tại trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt dƣới nhiều hình thức và nhiều nguồn khác nhau.
Toàn cầu hóa sẽ làm cho cạnh tranh đa phƣơng diễn ra ngày một mạnh mẽ hơn, giá cả nguyên vật liệu sẽ không ngừng gia tăng (do tài nguyên thiên nhiên ị sử dụng b t hợp lý), và với những v n nạn xã hội, doanh nghiệp ngày càng khó khăn hơn trong việc tìm đƣợc “lối ra” cho mình. Điều này còn thậm chí tệ hơn r t nhiều đối với những doanh nghiệp nhỏ hoặc mới thành lập. Thế giới đã thay đổi r t nhiều sau ba cuộc cách mạng công nghiệp và kể từ năm 2000 cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 hay còn gọi là cuộc cách mạng số có tầm ảnh hƣởng diễn ra toàn cầu trên t t cả các phƣơng diện của kinh tế và xã hội. Bƣớc tiếp hay thục lùi, để hòa vào dòng chảy thời đại chúng ta phải nắm vững những hiểu biết về cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, về lợi ích có đƣợc cũng nhƣ những nguy cơ thách thức phải đối mặt.
Với những thay đổi không ngừng của thời đại, buộc các doanh nghiệp cần phải có những hƣớng tiếp cận mới để tồn tại. Tại Việt Nam hầu hết các doanh nghiệp vẫn còn đánh giá tình hình “sức khỏe” của doanh nghiệp dựa vào các chỉ số tài chính truyền thống nhƣ ROA, ROE (Antoniadis và cộng sự (2010), Rokwaro và cộng sự (2013). Những phƣơng pháp đánh giá này 1 ngày càng ộc lộ nhiều hạn chế. Vì các chỉ số tài chính trên chỉ phản ánh những thông tin thuộc về quá khứ mang tính ch t ngắn hạn và không phản ánh đƣợc tƣơng lai dài hạn và miêu tả các ƣớc chiến lƣợc của doanh nghiệp.
Thẻ điểm cân ằng – Balanced Scoredcard đƣợc phát hiện từ những nghiên cứu về hiệu su t năm 1990 và đƣợc giới thiệu lần đầu tiên ởi Kaplan và Norton. Hai vị giáo sƣ đã nhận th y những yếu điểm của phƣơng pháp đánh giá chỉ dựa đơn thuần vào các chỉ số tài chính mà ỏ qua các chỉ số phi tài chính nhƣ mức độ hài lòng của khách hàng, nguồn nhân lực, mục tiêu, chiến lƣợc… Sự ra đời của phƣơng pháp đánh giá này giúp cho doanh nghiệp có thể nhận diện, mô tả và khai thác một cách triệt để nh t các giá trị của tài sản vô hình cho phép doanh nghiệp thu đƣợc những lợi ích từ tiềm năng của chính mình trong nền kinh tế mới. Tại Việt Nam, từ năm 2014 BSC mới tạo đƣợc những chú ý khi lần lƣợt đƣợc các Công ty lớn nghiêm túc áp dụng và đạt đƣợc hiệu quả nhƣ Tập đoàn VNPT, Tổng công ty Cổ phần Dịch vụ Kĩ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC). Điều đó không có nghĩa là BSC chỉ phù hợp cho các tổ chức lớn có nguồn lực hùng mạnh, theo nghiên cứu của Lawrie et al.
(2006) đã chỉ ra rằng BSC là một khung quản lý hiệu su t gắn liền với quy mô doanh nghiệp. Và theo Nguyễn Tuân (2017) BSC chỉ là một công cụ dùng để quản lý công việc tốt hơn và công cụ này phải phù hợp với quy mô và văn hóa doanh nghiệp. Mỗi một doanh nghiệp với đặc tính riêng của mình thì sẽ cho ra một công cụ mang đậm phong cách của doanh nghiệp đó và không một công cụ quản lý hiệu su t của doanh nghiệp nào giống doanh nghiệp nào. Hiệu quả của việc vận dụng BSC trong quản lý doanh nghiệp ngày càng đƣợc chứng minh nhƣng liệu BSC có thể đƣợc áp dụng cho các tổ chức hoạt động phi lợi nhuận nhƣ một cơ sở giáo dục không? Giống nhƣ doanh nghiệp các Trƣờng mầm non tƣ thục cũng gặp r t nhiều thách thức về tăng trƣởng, về tuyển sinh, ứng dụng công nghệ và chuẩn hóa qui trình quản lý….
Từ đó để giải quyết những khó khăn thách thức này uộc các trƣờng mầm non tƣ thục phải có đƣợc những chiến lƣợc mục tiêu để phát triển ngay từ những ƣớc đầu tiên. Tuy nhiên các cơ sở giáo dục sẽ 2 giải quyết ài toán tăng trƣởng của mình không nhƣ mô hình doanh nghiệp và BSC là một giải pháp. Hiện nay, BSC là phƣơng pháp đánh giá phù hợp với tình hình nội tại của mỗi doanh nghiệp dù thuộc mô hình hoạt động nào. Có nghĩa là dù doanh nghiệp b t kể thuộc khối ngành nào, qui mô ra sao thì mô hình này cũng linh động phù hợp với tình hình nội tại của doanh nghiệp đó.
Từ thực tiễn trên tác giả đã chọn đề tài: “Xây dựng Thẻ điểm cân ằng cho Trƣờng mầm non Xuân Mai” làm đề tài luận văn thạc sĩ. Góp phần giúp cho các nhà quản lý kinh doanh dịch vụ giáo dục có một cái nhìn tổng thể về tổ chức và có đƣợc những mục tiêu hoạt động, chiến lƣợc rõ ràng. Cân ằng đƣợc những nguồn lực hữu hình và vô hình của doanh nghiệp. Từ đó góp phần hạn chế đƣợc những rủi ro đến từ ên ngoài và ên trong doanh nghiệp.
Mục tiêu nghiên cứu - Mục tiêu tổng quát: xây dựng mô hình Thẻ điểm cân ằng cho Trƣờng Mầm non Xuân Mai. - Mục tiêu cụ thể: Xây dựng các thƣớc đo hiệu su t định lƣợng làm cơ sở cho Thẻ điểm cân ằng tại Trƣờng Mầm non Xuân Mai. - Câu hỏi nghiên cứu: Các thƣớc đo hiệu su t định lƣợng nào phù hợp để xây dựng Thẻ điểm cân ằng cho Trƣờng Mầm non Xuân Mai? Làm cách nào để vận dụng các thƣớc đo hiệu su t định lƣợng đó để ghi lại và khai thác giá trị của các tài sản vô hình đồng thời thực thi chiến lƣợc của Trƣờng Mầm non Xuân Mai một cách thành công? 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: cơ sở lý thuyết về BSC, các chiến lƣợc, mục tiêu, kế hoạch kinh doanh của Trƣờng Mầm non Xuân Mai để xây dựng BSC.
3 Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu đƣợc thực hiện tại Trƣờng Mầm non Xuân Mai; số liệu kinh doanh thực tế đƣợc l y của năm 2019-2020 và các chiến lƣợc, mục tiêu, kế hoạch kinh doanh của Trƣờng Mầm non Xuân Mai cho giai đoạn 2020 – 2025. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu định tính, sử dụng các nguồn dữ liệu thứ c p, các nguồn tài liệu thu thập tại Trƣờng Mầm non Xuân Mai về sứ mệnh, tầm nhìn, giá trị cốt lõi, chiến lƣợc, kết quả và kế hoạch kinh doanh giai đoạn 2019- 2020. Bên cạnh đó tiến hành phỏng v n sâu một số lãnh đạo chủ chốt, các chuyên gia có liên quan đến việc an hành và thực hiện BSC tại đơn vị và song song đó tiến hành phƣơng pháp thảo luận nhóm cho phép nhân viên các phòng an thể hiện ý kiến và thảo luận tiến đến thống nh t các tiêu chí đề ra trong BSC. Từ đó đƣa ra những phân tích, đánh giá nhằm xây dựng các thƣớc đo hiệu su t định lƣợng thích hợp với nguồn lực nhà trƣờng.
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Việc xây dựng bảng điểm cân ằng cho một đơn vị giáo dục mang lại nhiều kỳ vọng mới cho việc đạt đƣợc lợi ích to lớn từ quản lý ền vững trong giáo dục. Kỳ vọng sau khi xây dựng thành công ảng điểm cân ằng: - Nhà trƣờng sẽ đo lƣờng hiệu quả hoạt động một cách hiệu quả và khách quan hơn. - Có thể ghi lại và khai thác hết nguồn tài sản vô hình của nhà trƣờng. - Khám phá ra các điểm cần cải thiện trong công tác quản lý giáo dục và thực thi chiến lƣợc thành công.
- Mô tả đƣợc mối quan hệ nhân quả của 4 viễn cảnh trong bảng điểm cân ằng từ đó có thể thực thi thành công chiến lƣợc phát triển bền vững. Điều này đáp ứng đƣợc nhu cầu các ên liên quan và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập. 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu về Thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard – BSC) trên thế giới Ra đời năm 1990 tại Mỹ, BSC là một công cụ đƣợc giới thiệu bởi Ro ert Kaplan và David Norton, đƣợc đánh giá là một trong 75 phát minh có tầm ảnh hƣởng của thế kỷ 20 ( Havard Business Review). Một nghiên cứu của Kureshi (2014) về việc các công ty sử dụng BSC nhƣ một công cụ quản lý đã cho th y tỷ lệ sử dụng BSC trên thế giới khoảng 81%, trong đó phổ biến nh t là tại Châu Mỹ (trên 95%) và th p nh t ở khu vực châu Á khoảng 65%.
Trên thế giới, đã có nhiều ài nghiên cứu cho th y BSC đã đƣợc sử dụng phổ biến trong nhiều ngành nhƣ ngành y tế (Koll erg and Elg, 2010; GonzalezYSanchez và cộng sự, 2017), khách sạn, ngân hàng (Al-Najjar (2012); Ibrahim & Murtala (2015); Abofaied (2017), trong lĩnh vực giáo dục nổi trội là nghiên cứu của Chimtengo et al. Lĩnh vực giáo dục cũng có r t nhiều ài nghiên cứu về việc xây dựng và áp dụng BSC nhƣ nghiên cứu của Le lance và Nguyễn (1997), nghiên cứu của Stephen Chimtengo và cộng sự (2017), nghiên cứu của Daryush Farid (2008), nghiên cứu của Chen và cộng sự (2006), nghiên cứu của Mohamed Wah a (2016)… 1.1 Nghiên cứu của Leblance và Nguyễn Nghiên cứu của Le lance và Nguyễn (1997) nhằm đánh giá giá trị của dịch vụ giáo dục với dữ liệu thu thập từ 402 sinh viên tại một trƣờng đại học với quy mô nhỏ chuyên ngành kinh tế tại Canada. Nghiên cứu tiến hành phỏng v n nhóm đối với những sinh viên đang theo học tại trƣờng. Phƣơng pháp phỏng v n đƣợc tiến hành 5 dựa trên ảng câu hỏi với 33 giá trị về các khía cạnh khác nhau của trƣờng đại học nhƣ: ch t lƣợng dịch vụ, học phí….
Và sử dụng thang đo Likert ảy điểm, với điểm 1 là hoàn toàn không đồng ý và điểm 7 là hoàn toàn đồng ý.