Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương 2: Thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay – xuất xứ lịch sử và thực trạng Chương 3: Quan điểm định hướng và giải pháp hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƢỜNG 1.1- Quan niệm và phân loại thể chế, phân biệt thể chế kinh tế với cơ chế kinh tế, chế độ kinh tế, mô hình kinh tế Trong những thập kỷ gần đây, ở nước ta và trên thế giới, khái niệm, thuật ngữ “thể chế” ngày càng được đề cập nhiều trong các hoạt động kinh tế xã hội, trong các văn bản của nhà nước, các diễn đàn, hội thảo khoa học, trên các phương tiện thông tin đại chúng. Ngày nay, ở mọi quốc gia, người ta càng thấy được vai trò quan trọng của cải cách thể chế đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế, đặc biệt là đối với các nước có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam. Ronald Harry Coase, nhà kinh tế học đoạt giải Nobel năm 1991 với công trình “Cấu trúc thể chế của sản xuất” cho rằng: “Những nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, và các nhà lãnh đạo của họ cũng muốn làm điều đó, song không có những thể chế thích hợp thì không thể có được nền kinh tế thị trường ở bất kỳ mức độ nào” [21, tr. Vậy thể chế là gì? 1.1- Quan niệm về thể chế Trong lịch sử tư tưởng kinh tế, kinh tế học thể chế hay học thuyết kinh tế thể chế là một bộ phận của kinh tế học.
Các nhà kinh tế của các trường phái kinh tế học thể chế đã đưa ra các quan niệm khác nhau về thể chế. Thorstein Veblen, người sáng lập ra trường phái kinh tế thể chế cũ ở Mỹ vào những năm đầu của thế kỷ XX, đưa ra quan niệm: “Thể chế là tính qui chuẩn của hành vi hoặc qui tắc xác định hành vi trong tình huống cụ thể, được các thành viên của một nhóm xã hội chấp nhận về cơ bản, và 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sự tuân thủ các qui tắc đó là do bản thân tự kiểm soát hoặc do quyền lực bên ngoài khống chế” [1,tr. Ostrom đưa ra định nghĩa: “Thể chế là tập hợp các qui tắc được sử dụng nhằm xác định ai được phép ra quyết định trong một phạm vi nào đó những hành động được phép hoặc bị hạn chế, những qui tắc tập hợp nào sẽ được sử dụng, những thủ tục nào phải được tuân theo, thông tin gì phải được cung cấp hoặc không được cung cấp, và phần thưởng gì sẽ được dành cho những cá nhân tuỳ thuộc vào hành động của họ …. North, nhà kinh tế học người Mỹ, với công trình “Động thái kinh tế qua thời gian” đoạt giải Nobel năm 1993, đại biểu của trường phái kinh tế thể chế mới cho rằng: “ Thể chế là những qui phạm được con người tạo ra, cấu thành nên sự tác động qua lại của con người.
Nó bao gồm những qui phạm mang tính chính thức (các qui tắc, luật lệ, hiến pháp), những qui phạm không chính thức (những chuẩn mực về ứng xử, những tập quán, những qui tắc ứng xử tự đặt ra), và những đặc trưng về mặt thực thi chúng. Chúng cùng nhau xác định cấu trúc khuyến khích của các xã hội, và cụ thể hơn, của các nền kinh tế ” [21,tr. Như vậy, thể chế là những luật lệ do con người tạo ra nhằm mục đích định hình và điều tiết các quan hệ của con người, các quan hệ có thể là chính trị, kinh tế, xã hội… Ngân hàng thế giới (2002) trong Báo cáo phát triển thế giới 2002 với chủ đề “Xây dựng thể chế hỗ trợ thị trường”, cho rằng: “Thể chế là những qui tắc, kể cả các chuẩn mực, về hành vi mà dựa vào đó các tác nhân tương tác với nhau. Thể chế còn là các tổ chức để thực hiện các qui tắc, chuẩn mực nhằm đạt kết quả mong muốn” [11,tr.
Thể chế bao gồm ba khía cạnh: các qui tắc, cơ chế thi hành và các tổ chức (gắn với hành vi của chúng). Ba khía cạnh trên cũng có thể được nhìn nhận dưới hai góc độ: Một là tập hợp các qui tắc nhằm điều tiết, điều chỉnh mối quan 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hệ giữa các tác nhân có sự ràng buộc lẫn nhau, theo nghĩa này thì quyền sở hữu tư nhân, thị trường, quyền và nghĩa vụ dân sự …đều là các thể chế, hai là, sự mở rộng định nghĩa đến các thực thể tham gia vào việc thực thi các qui tắc và các nguồn lực cần thiết để làm việc đó, theo nghĩa này, công đoàn, toà án, viện kiểm sát, chính phủ…đều là các thể chế. Nếu gắn với lý thuyết trò chơi thì cũng có thể nhìn nhận thể chế như một “trò chơi” với luật chơi (các qui tắc) và người chơi (chính phủ, toà án, hiệp hội, công ty…), và mức cân bằng trong kết cục trò chơi. Ở đây, thể chế được xem như một hệ thống niềm tin được chia sẻ tập thể và tự duy trì theo cách chơi thường xuyên lặp lại.
Từ những quan niệm trên về thể chế, chúng ta có thể rút ra quan niệm tổng về thể chế kinh tế: “Thể chế kinh tế là tập hợp các qui tắc, cơ chế thi hành và các tổ chức do con người đặt ra nhằm điều chỉnh các quan hệ kinh tế”. Người Trung Quốc quan niệm rằng: “Thể chế kinh tế là hình thức cụ thể của phương thức, phương pháp, qui tắc cụ thể của việc tổ chức vận hành kinh tế trong một chế độ kinh tế, xã hội nhất định. Thể chế kinh tế là sự biểu hiện cụ thể của một chế độ kinh tế xã hội” [3,tr. Từ những tìm hiểu trên, chúng ta có thể đưa ra quan niệm về thể chế kinh tế thị trường: “Thể chế kinh tế thị trường là tổng thể các qui tắc, cơ chế thi hành và tổ chức do con người đặt ra nhằm điều chỉnh các quan hệ kinh tế diễn ra trong hệ thống kinh tế thị trường”.
Trên cơ sở nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị, tinh thần, thể hiện ở hai khía cạnh: - Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất quyết định đến hình thức xã hội của sản xuất tức là quan hệ sản xuất và sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất. - Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng và sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong khi đó, ta thấy rằng, điểm đặc thù của thể chế nói chung và thể chế kinh tế, thể chế kinh tế thị trường nói riêng mang tính chủ quan (do con người đặt ra), là phạm trù ý thức, thuộc kiến trúc thượng tầng, áp đặt vào tiến trình kinh tế xã hội mang tính khách quan, hay thể chế là cái thứ hai chịu sự quyết định của bản thân tiến trình hiện thực, hay trình độ phát triển kinh tế thị trường sẽ quyết định hình thức thể chế kinh tế thị trường phù hợp tương ứng. Cố nhiên, thể chế không phải là yếu tố thụ động, thể chế tác động trở lại đối với tiến trình kinh tế xã hội, tuỳ thuộc vào mức độ tiếp cận của thể chế đến các qui luật khách quan của sự vận động tiến trình kinh tế xã hội, cũng như phản ánh xu thế vận động trong tương lai của tiến trình khách quan đó như thế nào mà thể chế có thể thúc đẩy sự phát triển hay cản trở, thậm chí đẩy lùi sự phát triển kinh tế – xã hội.2- Phân loại thể chế Có thể phân loại thể chế theo nhiều tiêu chí khác nhau - Xét theo lĩnh vực hoạt động, bao gồm thể chế chính trị, thể chế kinh tế, thể chế văn hoá, thể chế giáo dục, thể chế môi trường.
tức là có bao nhiêu lĩnh vực hoạt động mà con người đặt ra các thể chế để điều chỉnh nó thì có bấy nhiêu loại thể chế. Trong từng lĩnh vực, thể chế lại được phân thành các cấp độ thấp hơn, đó là các thể chế áp dụng cho các lĩnh vực chuyên ngành, ví dụ thể chế tài chính tiền tệ, thể chế lao động. đều nằm trong thể chế kinh tế. - Xét theo mức độ hợp thức hóa, thể chế được phân thành thể chế chính thức và thể chế phi chính thức.
Thể chế chính thức là những thể chế do nhà nước đặt ra bao gồm từ hiến pháp, các bộ luật, nghị định, qui định từ trung ương và các địa phương, cho đến các qui tắc được phê chuẩn và áp dụng bởi các tổ chức công cộng và tư nhân hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Thể chế phi chính thức là những qui tắc, qui định, chuẩn mực do nhân dân , cộng đồng dân cư đặt ra đó là các phong tục, tập quán, thoả 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuận… thường vận hành bên ngoài hệ thống pháp luật chính thức, là những qui phạm xã hội bất thành văn, ví dụ các chuẩn mực về thừa kế đất đai, các hương ước trong làng xã. Xã hội càng phát triển, thể chế chính thức ngày càng đóng vai trò quan trọng, tác động đến hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Người ta cũng có thể phân chia xã hội hiện đại thành các khu vực bao gồm nhà nước, thị trường và xã hội dân sự (cộng đồng), tương ứng có ba khu vực thể chế là thể chế nhà nước, thể chế thị trường và thể chế cộng đồng.
Trong phạm vi của luận văn, chúng tôi chỉ đề cập đến hai khu vực thể chế là thị trường và nhà nước, là những thể chế cơ bản trong cấu trúc của thể chế kinh tế thị trường hiện đại.3- Phân biệt thể chế kinh tế với cơ chế kinh tế, chế độ kinh tế, mô hình kinh tế * Cơ chế kinh tế Cơ chế kinh tế của toàn bộ nền kinh tế xã hội chính là sự ăn khớp ngẫu nhiên giữa cơ chế tương ứng của các yếu tố cấu thành, ví dụ cơ chế giá cả, cơ chế lãi suất, cơ chế tiền lương, v.v… Cơ chế thị trường là hệ thống hữu cơ của sự thích ứng lẫn nhau, điều tiết lẫn nhau, tự điều hoà, tự tổ chức của các yếu tố như giá cả, cung cầu, thị trường, v.