Tài liệu Y tế: Thay đổi sự tuân thủ điều trị và tự chăm sóc của bệnh nhân

Nghiên cứu đánh giá mức độ tuân thủ điều trị và khả năng tự chăm sóc của bệnh nhân lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2023.

Trường đại học

Trường Đại học Thăng Long

Chuyên ngành

Điều Dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2023

108
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái Niệm Về Tuân Thủ Điều Trị Và Tự Chăm Sóc Bệnh Nhân Lọc Máu Chu Kỳ

Tuân thủ điều trịtự chăm sóc là hai yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả điều trị bệnh thận mạn giai đoạn cuối tại bệnh nhân lọc máu chu kỳ. Tuân thủ điều trị được định nghĩa là mức độ bệnh nhân thực hiện đúng các hướng dẫn từ nhân viên y tế, bao gồm việc sử dụng thuốc đúng liều lượng, thời gian và đúng hướng dẫn. Tự chăm sóc bệnh nhân liên quan đến khả năng bệnh nhân tự theo dõi sức khỏe, nhận biết các dấu hiệu bất thường và thực hiện các hành động chăm sóc cần thiết. Sự kết hợp giữa tuân thủ điều trị và tự chăm sóc giúp cải thiện chất lượng cuộc sống, giảm biến chứng và tăng tỷ lệ sống lâu dài cho bệnh nhân.

1.1. Tuân Thủ Điều Trị Dùng Thuốc

Tuân thủ điều trị dùng thuốc là điều kiện tiên quyết để bệnh nhân lọc máu chu kỳ duy trì ổn định sức khỏe. Bệnh nhân cần tuân thủ chặt chẽ các loại thuốc kê đơn như kháng sinh, thuốc huyết áp, vitamin D và chất kích thích sinh máu. Việc uống thuốc đúng thời gian, đúng liều lượng giúp kiểm soát các biến chứng như thiếu máu, loãng xương và tăng huyết áp.

1.2. Tự Chăm Sóc Và Theo Dõi Các Biểu Hiện Bất Thường

Tự chăm sóc đòi hỏi bệnh nhân phải tích cực theo dõi các triệu chứng như sốt, chóng mặt, khó thở hay sưng phù. Bệnh nhân cần nắm vững kiến thức về chế độ ăn uống, hạn chế nước và muối, cũng như duy trì vệ sinh nơi tiêm chích và vùng tạo lộ chân thường xuyên.

II. Tình Trạng Tuân Thủ Điều Trị Tại Bệnh Viện Thanh Nhàn Năm 2023

Nghiên cứu tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2023 cho thấy tình hình tuân thủ điều trị ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ còn nhiều hạn chế. Một số bệnh nhân không tuân thủ chặt chẽ về dùng thuốc, chế độ dinh dưỡng và các hướng dẫn không dùng thuốc khác. Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm trình độ học vấn, tình trạng kinh tế gia đình, tiếp cận dịch vụ y tế và thời gian phát hiện bệnh. Bệnh nhân cần được tư vấn kỹ lưỡng để nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của tuân thủ điều trị trong việc cải thiện tiên lượng bệnh.

2.1. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Tuân Thủ Điều Trị

Trình độ học vấn thấp, khó khăn về tài chính, khoảng cách đến bệnh viện xa và thiếu sự hỗ trợ gia đình là những yếu tố chính ảnh hưởng đến mức độ tuân thủ. Bệnh nhân phát hiện bệnh muộn thường có tình trạng sức khỏe nặng hơn, dẫn đến khó tuân thủ điều trị lâu dài.

2.2. Mức Độ Hiểu Biết Của Bệnh Nhân Về Bệnh Và Điều Trị

Nhiều bệnh nhân chưa có kiến thức đầy đủ về bệnh thận mạn, lợi ích của lọc máu chu kỳ và các biến chứng tiềm ẩn. Tư vấn y tế và giáo dục sức khỏe là cách hiệu quả để nâng cao nhận thức và cải thiện tuân thủ điều trị.

III. Hiệu Quả Của Tư Vấn Và Can Thiệp Điều Dưỡng

Nghiên cứu cho thấy tư vấn và can thiệp điều dưỡng có hiệu quả đáng kể trong việc thay đổi sự tuân thủ điều trịtự chăm sóc bệnh nhân lọc máu chu kỳ. Sau tư vấn, bệnh nhân có kiến thức tốt hơn về chế độ ăn uống, tuân thủ dùng thuốc và nhận biết các dấu hiệu cảnh báo của bệnh. Các chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng cải thiện, biến chứng giảm đáng kể. Điều dưỡng viên đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục, hỗ trợ bệnh nhân thích ứng với cuộc sống mới và duy trì tuân thủ điều trị dài hạn.

3.1. Thay Đổi Kiến Thức Về Tuân Thủ Dùng Thuốc

Sau tư vấn điều dưỡng, bệnh nhân nắm rõ hơn về loại thuốc, liều lượng và thời gian uống. Tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc tăng lên, giúp kiểm soát huyết áp, kích thích sản sinh máu và dự phòng biến chứng tim mạch.

3.2. Cải Thiện Tự Chăm Sóc Và Theo Dõi Sức Khỏe

Bệnh nhân học được cách theo dõi các triệu chứng bất thường, duy trì vệ sinh vùng tiêm chích, kiểm soát cân nặng hàng ngày và tuân thủ chế độ dinh dưỡng thích hợp. Những thay đổi này giúp phát hiện sớm các biến chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống.

IV. Vai Trò Của Nhân Viên Điều Dưỡng Trong Chăm Sóc Bệnh Nhân Suy Thận

Nhân viên điều dưỡng đóng vai trò then chốt trong việc cải thiện tuân thủ điều trịtự chăm sóc bệnh nhân lọc máu chu kỳ. Họ không chỉ cung cấp chăm sóc kỹ thuật mà còn là những người tư vấn, giáo dục và hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân. Thông qua tư vấn hiệu quả, điều dưỡng viên giúp bệnh nhân hiểu rõ bệnh tình, công dụng của các liệu pháp điều trị và cách tự chăm sóc đúng cách. Sự đồng hành, khuyến khích và hỗ trợ của điều dưỡng viên là động lực giúp bệnh nhân duy trì tuân thủ điều trị lâu dài, từ đó cải thiện kết quả lâm sàng, giảm biến chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống.

4.1. Tư Vấn Và Giáo Dục Sức Khỏe

Giáo dục sức khỏe là hình thức tư vấn giúp bệnh nhân nắm kiến thức về bệnh, phương pháp điều trị, chế độ ăn uống và cách tự chăm sóc. Điều dưỡng viên sử dụng phương pháp giảng dạy thích hợp với trình độ và đặc điểm của từng bệnh nhân để đảm bảo hiệu quả.

4.2. Hỗ Trợ Tâm Lý Và Động Viên Bệnh Nhân

Bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ gây tâm lý áp lực cho bệnh nhân. Điều dưỡng viên cần lắng nghe, hiểu cảm xúc và động viên bệnh nhân vượt qua khó khăn, duy trì niềm tin vào điều trị và tuân thủ dài hạn.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh thận mạn giai đoạn cuối và các phương pháp điều trị 1. Phân loại giai đoạn bệnh thận mạn Theo hội thận học Hoa Kỳ (2002) bệnh thận mạn tính được phân loại thành 5 giai đoạn dựa theo mức lọc cầu thận: [18] Giai đoạn MLCT (ml/phút/1,73 m2) Giai đoạn I: MLCT bình thường hoặc tăng 90-130 Giai đoạn II: MLCT giảm nhẹ 60-89 Giai đoạn III: MLCT giảm trung bình 30-59 Giai đoạn IV: MLCT giảm nặng 15-29 Giai đoạn V: MLCT giảm rất nặng <15 (điều trị thay thế) 1. Điều trị bệnh thận mạn Có hai biện pháp chính: Điều trị bảo tồn và điều trị thay thế thận suy.1 Điều trị bảo tồn - Khi MLCT > 15ml/phút.

Mục đích của điều trị nội khoa bảo tồn là phòng và ngăn chặn các đợt tiến triển cấp tính của suy thận, làm chậm tiến triển và kéo dài thời gian ổn định của suy thận, điều chỉnh các rối loạn nội môi [4], [17]. - Chế độ ăn: chế độ ăn tăng urê máu và làm chậm bước tiến của quá trình bệnh thận mạn, gọi là chế độ ăn giảm đạm. Chế độ ăn giảm đạm được chế biến tùy theo từng BN, từng giai đoạn bệnh thận mạn và được dựa trên nguyên tắc: giảm protein (đạm): dùng protein có giá trị sinh học cao, nghĩa là đủ acid amin cơ bản thiết yếu và tỷ lệ hấp thu cao; giàu năng lượng (phải đạt 35 – 40 cal/kg/ngày), đảm bảo đủ nhu cầu dinh dưỡng và hạn chế quá trình giáng hóa protein trong cơ thể; Đủ vitamin, yếu tố vi lượng, yếu tố chống thiếu máu; Đảm bảo cân bằng nước, muối, ít toan, đủ calci, ít phosphate. - Khống chế tình trạng tăng huyết áp: Thận là thủ phạm gây ra tăng huyết áp (THA) nhưng cũng lại là nạn nhân của huyết áp (HA) cao.

THA là một yếu tố thúc đẩy 3 nhanh quá trình bệnh thận mạn. Mặt khác THA lại có thể gây thêm biến chứng suy tim, tai biến mạch máu não. Mục đích điều trị là nên duy trì HA ở mức < 130/80 mmHg. - Điều trị rối loạn điện giải: Chủ yếu là tình trạng tăng kali máu, nếu K+ < 6,5 mmol/l: hạn chế đưa Kali vào qua đường ăn uống.

Nếu K+ > 6,5 mmol/l cần lọc máu cấp cứu. - Điều trị toan máu: tùy từng trường hợp cụ thể, tình trạng tim mạch và tăng HA. - Điều trị thiếu máu: điều chỉnh các yếu tố tham gia vào thiếu máu: chảy máu, thiếu sắt, thiếu acid folic; truyền máu, erythropoietin, duy trì nồng độ Hb ở mức 10 - 11g/dl. - Điều trị loạn dưỡng xương: bổ sung calci, thuốc tăng hấp thụ calci: Calcitriol, hạn chế phosphate: hạn chế sữa và phomat và các thuốc chứa thành phần phospho.

- Kiểm soát nhiễm khuẩn và giải quyết các ổ hoại tử hoặc xuất huyết - Không dùng các chất độc cho thận: thuốc có chứa thủy nhân, kim loại nặng, lợi tiểu hypothiazid, kháng sinh các nhóm aminosid, cefalosporin phải giảm liều, thuốc giảm đau như indomethacin…[4], [17]. Điều trị thay thế chức năng thận suy STM đến giai đoạn cuối thì cần phải ứng dụng các biện pháp điều trị thay thế thận suy. Điều trị thay thế thận bao gồm: lọc màng bụng, lọc máu và ghép thận [4], [17]. Lọc màng bụng là sử dụng màng phúc mạc làm màng lọc, khoang phúc mạc là khoang dịch lọc, máu trong mạch máu của lá phúc mạc là khoang máu.

Lọc máu ngoài cơ thể hay thận nhân tạo là quá trình lọc máu diễn ra ở ngoài cơ thể để lấy đi các sản phẩm cặn bã và nước dư thừa, dựa trên hai cơ chế cơ bản là khuyếch tán và siêu lọc. Ghép thận là phương pháp điều trị thay thế thận hoàn hảo nhất. Thận ghép có thể thay thế cả chức năng điều hoà nội môi và chức năng nội tiết của thận suy. BN được ghép thận có sức khoẻ và cuộc sống gần hoàn toàn bình thường, có thể trở lại với công việc thường ngày.

4 Thư viện ĐH Thăng Long 1. Thận nhân tạo chu kỳ Chạy thận nhân tạo là dùng máy thận nhân tạo và màng lọc nhân tạo để lọc bớt nước và các sản phẩm chuyển hóa từ trong máu ra ngoài cơ thể. Đào thải nhanh các chất độc và các sản phẩm chuyển hóa (như ure, creatinin, kali, các chất có trọng lượng phân tử nhỏ và trung bình). Nguyên lý Nguyên lý của lọc máu thận nhân tạo: Các chất hòa tan có thể đi qua màng lọc theo hai cơ chế: khuếch tán và siêu lọc - Khuếch tán: Tốc độ trao đổi của một chất hòa tan phụ thuộc vào trọng lượng phân tử và sự chênh lệch nồng độ chất đó ở 2 bên màng lọc.

Các chất đi từ nơi có nồng độ cao sang nơi có nồng độ thấp. - Siêu lọc: hiện tượng siêu lọc xảy ra khi nước bị đẩy qua màng bởi áp lực thủy tĩnh. Các chất hòa tan cùng với phân tử nước đi chuyển qua màng lọc. Khối lượng vận chuyển phụ thuộc hệ số trao đổi chất đó qua màng và áp lực xuyên màng.

Phương thức lọc máu: - Khi lọc máu bằng thận nhân tạo, cần phải đưa 1 lưu lượng máu lớn qua màng lọc (khoảng 250-300ml/phút). Do đó cần tạo đường vào mạch máu lâu dài, có nhiều cách để làm, tuy nhiên trên lâm sàng thường tạo lỗ thông động tĩnh mạch (AVF) ở cổ tay. - Thời gian lọc máu trung bình khoảng 12h/tuần, chia 3 lần, mỗi lần 4h. Một số biến chứng thường gặp ở bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối lọc máu chu kỳ Khi chạy thận nhân tạo, một số biến chứng có thể xảy ra đối với bệnh nhân như bị tụt huyết áp, chuột rút, nôn và buồn nôn, nhức đầu, đau ngực và đau lưng, ngứa.

Biến chứng ngoài buổi lọc: Thiếu máu là một biểu hiện thường xuyên gặp ở bệnh nhân lọc máu chu kì, và là một trong các yếu tố góp phần làm gia tăng tình trạng suy tim. Khi chức năng thận suy giảm, thận giảm sản xuất hormon Erythropoietin, dẫn đến tủy xương giảm sản xuất tế bào máu, gây thiếu máu. Các yếu tố tham gia vào cơ chế bệnh sinh của thiếu máu trong bệnh thận mạn chủ yếu do thiếu hụt Erythropoietin, giảm đời sống hồng cầu, mất máu trong quá trình lọc máu chu kì. Đồng thời, việc thiếu các chất dinh dưỡng là nguyên liệu 5 cho quá trình tổng hợp Hemoglobin như sắt, vitamin B12, acid folic cũng góp phần vào nguyên nhân gây thiếu máu.

Ngứa: cũng là một biến chứng thường gặp ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo, đôi khi dấu hiệu này được tăng cường hoặc nặng lên do việc chạy thận nhân tạo, có thể kèm theo các triệu chứng dị ứng nhẹ khác. Có trường hợp bị ngứa mạn tính trong trường hợp bệnh nhân nằm lâu trên giường hoặc ngồi ghế khi chạy thận nhân tạo. Biến chứng trong buổi lọc Tụt huyết áp: đây là một biến chứng thường gặp trong khi chạy thận nhân tạo vì có liên quan đến tình trạng thể tích máu giảm quá mức bình thường hoặc giảm quá nhanh với nguyên nhân chủ yếu từ giảm thể tích máu do rút dịch để siêu lọc mà sự đáp ứng của huyết động bù trừ không đủ. Việc duy trì thể tích máu trong khi chạy thận nhân tạo chủ yếu dựa vào sự tái làm đầy lòng mạch máu từ mô kẽ, một quá trình có tốc độ thay đổi tùy theo từng bệnh nhân.

Tình trạng giảm thể tích máu sẽ làm giảm độ đầy của tim gây ra giảm cung lượng tim và cuối cùng dẫn đến tụt huyết áp. Chuột rút: nguyên nhân này chưa được biết một cách rõ ràng trong khi chạy thận nhân tạo nhưng theo các nhà khoa học các yếu tố thuận lợi có thể ảnh hưởng gây nên như: tụt huyết áp, giảm thể tích, tốc độ siêu lọc cao và dùng dịch lọc có nồng độ natri thấp. Tất cả các yếu tố này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự co mạch, giảm cung cấp máu cho cơ làm rối loạn thư giãn cơ. Dấu hiệu chuột rút thường xảy ra khi bị tụt huyết áp, sau đó chuột rút thường kéo dài dai dẳng dù huyết áp đã phục hồi đầy đủ.

Tần suất chuột rút tăng theo với nhu cầu rút dịch. Chuột rút cũng thường gặp ở tháng đầu chạy thận nhân tạo hơn là vào những giai đoạn về sau. Ngoài ra, tình trạng hạ magiê máu, hạ calci máu, hạ kali máu trong quá trình chạy thận nhân tạo cũng có thể gây nên triệu chứng chuột rút. Nôn và buồn nôn: biến chứng này có thể xảy ra với tỷ lệ khoảng 10% trường hợp chạy thận nhân tạo thường quy và có nhiều nguyên nhân dẫn đến biến chứng này.

Ở bệnh nhân ổn định, hầu hết do tụt huyết áp; buồn nôn và nôn có thể là triệu chứng sớm của hội chứng mất cân bằng. Bệnh nhân khi chạy thận nhân tạo thường bị buồn nôn và nôn dễ dàng hơn những bệnh nhân khác bị nhiễm trùng đường hô hấp, dùng thuốc gây nghiện, tăng calci máu và chạy thận nhân tạo có thể làm nặng thêm triệu chứng trong 6 Thư viện ĐH Thăng Long các bệnh lý này. Nhức đầu: đây là một biến chứng cũng thường gặp trong lúc chạy thận nhân tạo, nguyên nhân chưa được biết rõ. Có thể lầ triệu chứng kín đáo của hội chứng mất cân bằng.

Đối với trường hợp nhức đầu không điển hình hoặc quá nặng nên xem xét nguyên nhân về thần kinh, đặc biệt là tình trạng xuất huyết ảnh hưởng bởi thuốc chống đông máu. Phòng biến chứng này bằng cách giảm nồng độ natri dịch lọc có thể có ích cho bệnh nhân đang dùng dịch lọc có nồng độ natri cao. Đau ngực và đau lưng: bệnh nhân có thể đau ngực nhẹ hoặc khó chịu ở ngực, thực tế thường ít nhiều có dấu hiệu đau lưng kèm theo. Nguyên nhân cũng chưa được biết rõ, không có cách xử trí hay phòng ngừa đặc hiệu.

Biến chứng đau ngực thường xảy ra trong các trường hợp chạy thận nhân tạo nhưng cần phải chẩn đoán phân biệt với những nguyên nhân gây đau ngực khác như tán huyết, thuyên tắc khí, viêm màng ngoài tim. Biến chứng liên quan đến AVF: trong quá trình lọc máu có thể xảy ra một số tình huống như chọc xuyên thành mạch gây tụ máu, băng cầm máu không tốt hoặc quá liều heparin gây chảy máu, băng ép quá chặt gây tắc AVF, … Các biến chứng này có thể xảy ra do kỹ thuật và kinh nghiệm của nhân viên y tế hoặc do bệnh nhân không phối hợp tốt với nhân viên y tế trong quá trình lọc máu và sau lọc máu. Ngoài ra khi chạy thận nhân tạo bệnh nhân có thể có các biến chứng sốt và ớn lạnh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ