Tài liệu Giáo dục: Thay đổi kiến thức thực hành tự tiêm insulin của người

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả tư vấn giáo dục sức khỏe tăng cường đến kiến thức và kỹ năng tự tiêm insulin ở người cao tuổi mắc đái tháo đường típ 2.

Trường đại học

Trường đại học Thăng Long

Chuyên ngành

Điều dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2024

105
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm về tự tiêm insulin và tầm quan trọng của kiến thức

Tự tiêm insulin là một kỹ năng quan trọng đối với những người bệnh đái tháo đường típ 2 cần điều trị bằng insulin. Việc nắm vững kiến thức tự tiêm insulin giúp bệnh nhân tự quản lý bệnh hiệu quả, giảm các biến chứng đái tháo đường và cải thiện chất lượng sống. Đặc biệt, với nhóm người cao tuổi, việc hiểu rõ về cơ chế tác dụng của insulin, các loại insulin khác nhau, và kỹ thuật tiêm đúng là cần thiết. Luận văn của Đào Thị Thoa từ Đại học Thăng Long năm 2024 đã chứng minh rằng giáo dục sức khỏe tăng cường có thể thay đổi đáng kể thực hành tự tiêm insulin. Sự thay đổi này không chỉ phản ánh trong kiến thức mà còn trong thực hành thực tế, mang lại kết quả tích cực cho sức khỏe bệnh nhân.

1.1. Định nghĩa tự tiêm insulin

Tự tiêm insulin là quá trình bệnh nhân tự tiêm thuốc insulin theo hướng dẫn của bác sỹ. Đây là phương pháp điều trị quan trọng cho những người mắc đái tháo đường típ 2 không đáp ứng với các thuốc uống. Bệnh nhân cần hiểu rõ về chỉ định insulin, liều lượng, thời gian tiêm và các vị trí tiêm an toàn như vùng bụng, đùi hoặc cánh tay.

1.2. Tầm quan trọng của kiến thức trong quản lý bệnh

Kiến thức tự tiêm insulin giúp bệnh nhân tránh sai sót trong kỹ thuật, từ đó giảm nguy cơ biến chứng cấp tính như hôn mê hypoglycemia. Một chương trình giáo dục sức khỏe hiệu quả có thể nâng cao kỹ năng tự chăm sóc, cải thiện kiểm soát đường máu và nâng cao tuân thủ điều trị ở bệnh nhân cao tuổi.

II. Thực trạng kiến thức và thực hành tự tiêm insulin trước can thiệp

Trước khi tham gia chương trình can thiệp giáo dục sức khỏe, nhiều người bệnh cao tuổi mắc đái tháo đườngkiến thức hạn chế về tự tiêm insulin. Nghiên cứu của Đào Thị Thoa tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương năm 2023 cho thấy thực hành tự tiêm insulin của nhóm bệnh nhân này chưa đạt chuẩn. Nhiều bệnh nhân không biết về phân loại insulin, cơ chế tác dụng, hay cách bảo quản insulin đúng cách. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức hạn chế bao gồm tuổi cao, trình độ học vấn thấp và thiếu hướng dẫn từ nhân viên y tế. Các sai sót trong kỹ thuật tiêm như chọn vị trí tiêm sai, không sát trùng da hoặc tiêm sai độ sâu còn phổ biến. Điều này dẫn đến nguy c险biến chứng như viêm nhiễm tại vị trí tiêm, tích tụ insulin hay kiểm soát đường máu kém.

2.1. Kiến thức tự tiêm insulin trước can thiệp

Hầu hết người bệnh cao tuổi trong nghiên cứu có kiến thức chung chung về insulin, nhưng chi tiết về cơ chế tác dụng, thời gian khởi phátthời gian tác dụng cực đại của các loại insulin còn mơ hồ. Bệnh nhân thường chỉ biết rằng họ cần tiêm insulin để kiểm soát đường máu nhưng không hiểu rõ lý do tại sao.

2.2. Thực hành tự tiêm insulin trước can thiệp

Thực hành tiêm của bệnh nhân thường không đạt chuẩn kỹ thuật. Nhiều người quên sát trùng vị trí tiêm, tiêm sai vị trí hoặc góc độ, và không xoay vị trí tiêm để tránh tích tụ insulin. Kỹ thuật tiêm sai có thể dẫn đến hấp thu insulin kémkiểm soát đường máu không ổn định.

III. Phương pháp can thiệp giáo dục sức khỏe tăng cường

Giáo dục sức khỏe tăng cường là chiến lược chính được áp dụng trong Bệnh viện Lão khoa Trung ương để thay đổi kiến thức và thực hành tự tiêm insulin. Phương pháp này bao gồm các tư vấn cá nhân hóa, hướng dẫn thực hành với mô hình, buổi tập luyện trực tiếp dưới sự giám sát của điều dưỡng viên, và tài liệu giáo dục dễ hiểu. Chương trình được thiết kế phù hợp với trình độ hiểu biết của người bệnh cao tuổi, tính đến các yếu tố liên quan như tuổi, trình độ học vấn và hạn chế về thị lực. Tư vấn giáo dục sức khỏe không chỉ cung cấp kiến thức lý thuyết mà còn kỹ năng thực hành cần thiết. Bệnh nhân được hướng dẫn từng bước cách tiêm insulin đúng, **quản lý các tai biến tiêm insulin', và duy trì độ chính xác của liều lượng. Điều này giúp bệnh nhân xây dựng tự tin trong tự tiêm insulin hàng ngày.

3.1. Nội dung giáo dục sức khỏe tăng cường

Chương trình giáo dục bao gồm kiến thức về đái tháo đường, phân loại insulin, cơ chế tác dụng, hướng dẫn tiêm kỹ thuật, phòng ngừa biến chứngquản lý máu đường. Bệnh nhân học cách chọn vị trí tiêm, bảo quản insulin đúng cách, và xử trí các tình huống khẩn cấp. Giáo dục cũng nhấn mạnh tuân thủ điều trị và tầm quan trọng của tái khám định kỳ.

3.2. Công cụ đánh giá và hỗ trợ

Nghiên cứu sử dụng bảng hỏi kỹ thuật tiêm insulin (ITQ) để đánh giá kiến thứcthực hành tự tiêm. Ngoài ra, tư vấn cá nhânhỗ trợ từ nhân viên y tế giúp bệnh nhân giải đáp thắc mắc, khắc phục khó khănduy trì động lực trong quá trình học tập.

IV. Kết quả thay đổi kiến thức và thực hành sau can thiệp

Sau khi tham gia chương trình giáo dục sức khỏe tăng cường, kiến thức và thực hành tự tiêm insulin của người bệnh cao tuổisự thay đổi tích cực đáng kể. Luận văn thạc sĩ điều dưỡng của Đào Thị Thoa cho thấy mức độ kiến thức của bệnh nhân tăng lên rõ rệt, đặc biệt trong các khía cạnh như phân loại insulin, kỹ thuật tiêm đúngnhận biết các dấu hiệu hypoglycemia. Thực hành tự tiêm insulin cũng cải thiện đáng kể, với bệnh nhân thực hiện kỹ thuật tiêm chính xác, sát trùng vị trí tiêm, xoay vị trí tiêm đúng cách. Sự thay đổi này đóng góp vào kiểm soát đường máu tốt hơn, giảm tai biến liên quan đến tiêm insulincải thiện chất lượng sống. Tuân thủ điều trị của bệnh nhân cũng nâng cao, thể hiện qua kỳ vọng tích cực về quản lý bệnh lâu dài. Kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe trong thay đổi hành vi sức khỏenâng cao hiệu quả điều trị đái tháo đường ở nhóm người cao tuổi.

4.1. Cải thiện kiến thức sau can thiệp

Kiến thức của bệnh nhân về tự tiêm insulin cải thiện rõ rệt, đặc biệt về liều lượng insulin, thời gian tiêm, bảo quản insulinphòng ngừa các biến chứng. Bệnh nhân hiểu rõ hơn về cơ chế hoạt động của các loại insulin khác nhau và tầm quan trọng của tuân thủ với hướng dẫn của bác sỹ. Sự nâng cao kiến thức này tạo nền tảng vững chắc cho thực hành đúng cách.

4.2. Nâng cao thực hành và chất lượng sống

Thực hành tự tiêm insulin của bệnh nhân đạt chuẩn kỹ thuật cao hơn, bao gồm vệ sinh tay trước tiêm, sát trùng vị trí tiêm, xoay vị trí tiêm định kỳ và tiêm với góc độ chính xác. Những cải thiện này dẫn đến hiệu quả điều trị tốt hơn, giảm biến chứngnâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh cao tuổi mắc đái tháo đường.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh mạn tính không lây, có tốc độ phát triển rất nhanh cùng với các bệnh: ung thư, tim mạch, béo phì. Ngày nay, bệnh ĐTĐ ngày càng phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Theo Hiệp hội đái tháo đường thế giới (IDF), năm 2015 trên thế giới có khoảng 415 triệu người mắc đái tháo đường dự kiến đến năm 2040 trên thế giới có khoảng 642 triệu người [34]. Tại Việt Nam, theo kết quả điều tra dịch tễ học bệnh đái tháo đường toàn quốc năm 2012 do Bệnh viện Nội tiết trung ương tiến hành, tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường trên toàn quốc ở người trưởng thành là 5,42%, tỷ lệ đái tháo đường chưa được chẩn đoán trong cộng đồng là 63,6% [5].

Theo kết quả điều tra STEPwise về các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm do Bộ Y tế thực hiện năm 2015, ở nhóm tuổi từ 18-69, cho thấy tỷ lệ ĐTĐ toàn quốc là 4,1%, tiền ĐTĐ là 3,6% [8]. Bệnh ĐTĐ có rất nhiều biến chứng nguy hiểm làm tăng gánh nặng chi phí điều trị, giảm chất lượng cuộc sống và ảnh hưởng tới tính mạng người bệnh. Để hạn chế và làm chậm tiến triển các biến chứng của bệnh bên cạnh việc ăn uống và luyện tập hợp lý đỏi hỏi người bệnh còn phải có kiến thức sử dụng các thuốc đúng cách, Insulin là một trong các thuốc điều trị đái tháo đường giúp giảm đường máu hiệu quả nhất được chỉ định tuyệt đối cho người bệnh ĐTĐ típ1, ĐTĐ thai kỳ, ĐTĐ típ 2 (khi người bệnh đã thay đổi chế độ ăn, luyện tập và dùng các thuốc viên điều trị ĐTĐ mà không kiểm soát được đường máu hoặc do các chỉ định điều trị của bác sỹ) và một số trường hợp khác [4]. Tuy vậy, nếu người bệnh sử dụng không đúng cách có thể gây ra một số tác dụng không mong muốn như: hạ đường máu, đau nơi tiêm, loạn dưỡng lớp mỡ dưới da [47]… làm giảm hiệu quả của thuốc thậm chí làm tăng nguy cơ tử vong cho người bệnh.

Để người bệnh có thể sử dụng insulin an toàn và hiệu quả thì vai trò của người điều dưỡng là vô cùng quan trọng đặc biệt trong việc tư vấn hướng dẫn người bệnh đái tháo đường tự tiêm insulin. 2 Hiện nay, ở Việt Nam cũng như trên thế giới đã có một số nghiên cứu liên quan đến kiến thức và kỹ năng thực hành tự tiêm insulin ở người bệnh ĐTĐ nhưng còn rất hiếm các nghiên cứu đánh giá về sự thay đổi nhận thức của người bệnh trong việc tự tiêm insulin sau khi được điều dưỡng tư vấn & giáo dục sức khỏe. Câu hỏi đặt ra vậy mức độ kiến thức, thực hành tiêm insulin của người bệnh cao tuổi như thế nào? Mức độ cải thiện về kiến thức, thực hành – hiệu quả chương trình can thiệp như thế nào? Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thay đổi kiến thức và thực hành tự tiêm Insulin của ngƣời bệnh cao tuổi đái tháo đƣờng típ 2 sau tƣ vấn giáo dục sức khỏe tăng cƣờng tại bệnh viện Lão khoa năm 2023” với mục tiêu: 1. Mô tả kiến thức và thực hành tự tiêm Insulin của người bệnh cao tuổi đái tháo đường típ 2 điều trị tại bệnh viện Lão Khoa Trung Ương năm 2023.

Đánh giá sự thay đổi kiến thức và thực hành tự tiêm Insulin của người bệnh cao tuổi đái tháo đường típ 2 sau tư vấn giáo dục sức khỏe tăng cường. Thư viện ĐH Thăng Long 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan về đái tháo đƣờng 1. Định nghĩa Đái tháo đường (ĐTĐ) là tình trạng tăng đường máu (ĐM) mạn tính đặc trưng bởi những rối loạn chuyển hoá carbohydrat, có kèm theo rối loạn chuyển hóa lipid và protein do giảm tuyệt đối hoặc tương đối tác dụng sinh học của insulin và/hoặc tiết insulin [3].

Sinh lý học Bình thường glucose máu được cân b ng trong cơ thể và xuất sứ từ hai nguồn, đó là nguồn gốc ngoại sinh (chuyển hóa các carbohydrat do thức ăn cung cấp), sau khi ăn các thức ăn, tinh bột được amylase của nước bọt và tụy thủy phân, trái lại các disaccharid được enzym disaccharidase của ruột phân hủy. Quá trình này dẫn tới hấp thu glucose qua đường tiêu hóa và sau đó chất này kích thích các tế bào bêta của đảo Langerhans bài xuất insulin. Với nguồn gốc nội sinh (chuyển đổi glycogen thành glucose), theo nhu cầu và dưới tác động của một số hormon như glucagon, adrenalin, cortisol và hormon tăng trưởng, một số cơ quan, đặc biệt là gan nhờ quá trình phân hủy và tân tạo glycogen có khả năng đưa vào tuần hoàn glucose từ các thành phần chuyển hóa như glycogen, pyruvat, lactat, glycerol và các axit amin. Bình thường cơ chế điều hòa nồng độ glucose máu chịu tác động của hai hệ thống hormon đối lập nhau đó là, insulin có tác dụng làm hạ glucose máu, nhưng glucagon, adrenalin, cortisol và GH có tác dụng làm tăng nồng độ glucose máu (ví dụ: khi nhịn đói dài ngày dưới tác động của glucagon và adrenalin, s xuất hiện quá trình phân hủy glycogen nh m để đưa glucose dự trữ tại gan trở lại vòng tuần hoàn).

Do vậy khi bị rối loạn nồng độ glucose trong máu, đường huyết s cao hơn bình thường 1. nh sinh c a i th o ng típ 2: - Suy giảm chức năng tế bào beta của tuyển tụy. Đây là tế bào có chức năng điều hòa sản xuất Hormone Insulin. Khi nồng độ Glucose trong máu cao, hormone này có tác dụng giúp cho Glucose từ máu đi vào tế bào.

Khi Glucose trong máu giảm nó s tiết ra ít hơn.Với NB bị suy giảm chức năng tiết Insulin của tuyển tụy làm cho lượng insulin trong máu tiết ra không đủ đề hạ Glucose huyết. - Đề kháng insulin của cơ thể (các cơ quan chống lại tác dụng của insulin) + Đề kháng insulin ở gan: Gan là nơi dự trử Glucose của cơ thể dưới dạng chuyển hóa Glycogen. Lúc cơ thể đói gan s chuyển hóa Glycogen thành Glucose. Khi bị 4 ĐTĐ típ 2 tế bào gan đề kháng với insulin, có nghĩa là gan s sản xuất Glucose ồ ạt không chịu sự kiểm soát của insulin.

Làm cho đường huyết lúc đói tăng cao. + Đề kháng insulin ở cơ: khi có đề kháng insulin ở cơ làm cho glucose từ máu không thể vào tế bào để tạo năng lượng làm cho glucose trong máu tăng cao. + Đề kháng insulin ở mô mỡ : Ở bệnh nhân béo phì hay gan nhiễm mỡ, tế bào đề kháng với insulin làm tăng ly giải mô mỡ tạo nhiều glycerol và triglyceride là những chất tạo thành Glucose dự trữ ở Gan. - Tăng Hormone Glucagon: Ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 hormone này được tiết ra nhiều hơn so với người bình thường, làm tăng đường huyết.

- Giảm vai trò Hormone Incretin: Hormone này có 2 loại chính GLP1 và GIP2 được tiết vào ruột sau khi ăn xong, hormon này có tác dụng trong thời gian ngắn giúp tế bào tuyển tụy tăng tiết insulin và giảm tiết glucagon. Ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2 hiệu quả của 2 hormone này giảm rõ rệt. - Tăng tái hấp thu Glucose ở Thận - Rối loạn chức năng dẫn truyền thần kinh ở não : Não kiểm soát sự cân b ng giữa insulin và glucose. Khi mất cân b ng đường huyết s tăng cao.

Không phải do tổn thương tuyến tu mà thường do ưu năng một số tuyến nội tiết khác (thuỳ trước tuyến yên, tuyến giáp, tuyến thượng thận), bệnh xuất hiện muộn (ở người cao tuổi), bệnh không liên quan đến miễn dịch, vai trò của các yếu tố di truyền không rõ ràng, nồng độ insulin trong máu có thể bình thường, giảm hay tăng. Bệnh sinh, về cơ bản, giống như típ 1, nhưng bệnh nhẹ hơn và diễn biến chậm hơn. Thư viện ĐH Thăng Long 5 1. Nguyên nhân gây b nh.

Nguyên nhân nguyên phát - Ð i th o ng Típ 2 (đái tháo đường không phụ thuộc insuline): thường gặp ở người trung niên cao tuổi, béo phì, ít vận động, ăn nhiều mỡ động vật, uống nhiều nước ngọt, ăn thức ăn hấp thụ nhanh, hoặc có người bệnh không béo phì. - nh h ng c a di truy n v m i tr ng: Sinh đôi cùng trứng, có thể có người bị đái tháo đường, người không bị đái tháo đường. Nguyên nhân thứ phát - Bệnh của tuyến tu : xơ tụy, viêm tụy cấp hay mạn (chỉ gặp số ít), khối u tụy. - Do bất thường về hormon: Quá thừa adrenalin (stress, sốc, bỏng…), quá thừa corticoit (dùng quá nhiều corticoit, curhing), quá thừa glucagon (u tế bào tiết glucagon), quá thừa hormon tăng trưởng (GH: bệnh to đầu chi), nhiễm độc giáp - Các nguyên nhân có thể gây mất bù tạm thời bệnh đái tháo đường tiềm tàng (do bị nhiễm trùng, chấn thương, có thai, sau phẫu thuật, do dùng một số thuốc như lợi tiểu thuốc corticoit, chảy máu dưới nhện, tình trạng co giật 1.

c y u t nguy c Yếu tố thuận lợi như nhiễm virut Epstein-Barr có thể phá hủy các tế bào tiểu đảo hoặc các tế bào trực tiếp có thể lây nhiễm các tế bào tiểu đảo, vi rút quai bị…, do bị nhiễm trùng, nhiễm độc, bỏng…, stress, sống ở núi độ cao hơn 3000m so với mực nước biển, hoặc do sử dụng một số thuốc điều trị bệnh tâm thần, thuốc chẹn bê ta giao, estrogen… , các thuốc có thể giảm nồng độ glucose máu lúc đói như theophyllin, carvediol, ethanol, thuốc viên hạ đường huyết Béo phì và ít vận động, thói quen ăn nhiều mỡ động vật, uống nhiều nước ngọt, ăn thức ăn hấp thụ nhanh (đái tháo đường typ 2) 1. Tri u chứng lâm s ng ri u ch ng l m sàng r t a ng, tri u ch ng ch y u ng th i c ng là tri u ch ng quan tr ng ch n oán ái tháo ng l m sàng là: - Tăng glucoza máu - Có glucoza trong nước tiểu, nước tiểu ngọt, kiến bâu - Ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều, gầy sút cân. - Khô miệng, khô da, mệt mỏi 6 ái tháo đƣờng Típ 2 Xảy ra ở người lớn 45 tuổi, bệnh có tính gia đình, thường gặp ở người béo, sống tĩnh tại, nhất là các đối tượng có chỉ số khối cơ thể (BMI) 25 kg/m 3, cũng có người bệnh thể trạng bình thường. ái tháo đường týp 2 hay đái tháo đường không phụ thuộc insulin, khi đường máu tăng cao xuất hiện dấu hiệu như ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều, mệt mỏi.

Bệnh tiến triển từ từ trong nhiều năm, khởi đầu thường không rõ ràng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ