Chương 1: Cơ sở lý luận về thanh tra hoạt động cho vay của các QTDND Chương 2: Thực trạng thanh tra hoạt động cho vay của các QTDND tại NHNN tỉnh Hà Giang Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra hoạt động cho vay của các QTDND tại NHNN tỉnh Hà Giang 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÁC QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN 1.1 Tổng quan về quỹ tín dụng nhân dân 1.1 Khái niệm, đặc trưng cơ bản của Qũy tín dụng nhân dân a, Khái niệm Quỹ tín dụng nhân dân xuất hiện vào nửa cuối thế kỷ 19 ở các nước Châu Âu và đầu thế kỷ 20 ở Canada và Hoa Kỳ. Trước sự phát triển mạnh mẽ của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, những người nông dân bị bần cùng hoá buộc phải tìm cách hợp tác, giúp đỡ nhau về vốn để phát triển sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống. Từ những tổ chức sơ khai hình thành ở từng vùng, mang tính tương trợ đơn thuần, dần dần phát triển thành các QTDND hợp tác trong khu vực nông nghiệp, nông thôn. Đến nay, các tổ chức này được thành lập ở nhiều nước trên thế giới dưới nhiều hình thức và tên gọi khác nhau như ngân hàng hợp tác xã, hợp tác xã tín dụng, QTDND, quỹ tín dụng và tiết kiệm,… Quỹ tín dụng nhân dân là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác, do các thành viên tự nguyện góp vốn thành lập, hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên nhằm phát huy sức mạnh tập thể và của từng thành viên, giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống chủ yếu trong khu vực nông nghiệp và nông thôn.
Theo Luật các TCTD năm 2010, QTDND được định nghĩa như sau: “Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một 7 số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống”. b, Một số đặc trưng cơ bản của Qũy tín dụng nhân dân QTDND có các đặc tính cơ bản sau đây: - Về hình thức sở hữu: sự khác biệt lớn nhất của QTDND so với NHTM là hình thức sở hữu; QTDND thuộc sở hữu tập thể dẫn đến sự khác biệt về cách thức quản lý và hình thức ra quyết định. Mọi thành viên vừa là khách hàng, vừa là chủ sở hữu của QTDND. Nói cách khác, QTDND là loại hình tổ chức “của thành viên, do thành viên và vì thành viên”.
Các thành viên tham gia QTDND đều bình đẳng như nhau về quyền và nghĩa vụ, không phụ thuộc số lượng vốn góp vào QTDND, thể hiện trong việc tham gia và có quyền quyết định các vấn đề về định hướng, cách thức hoạt động, nhân sự, các đối tượng thụ hưởng và giá cả dịch vụ, việc phân chia lợi nhuận. Ngược lại, các thành viên phải có trách nhiệm bảo đảm cho QTDND hoạt động tốt và được quản lý lành mạnh; - Nền tảng hợp tác xã (HTX): hình thức hoạt động của QTDND mang tính hợp tác xã, nghĩa là nó liên kết các thành viên (khách hàng-chủ sở hữu); tổ chức và hoạt động của QTDND tuân thủ nguyên tắc HTX, nguyên tắc tự nguyện, tự trợ giúp thông qua hợp tác tương trợ lẫn nhau; nguyên tắc tự quản lý một cách dân chủ, bình đẳng; nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm; - Sứ mệnh và mục đích: sứ mệnh và mục đích của QTDND là tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân muốn gia nhập QTDND được hưởng các dịch vụ tài chính tại chỗ với những điều kiện tốt nhất; thông qua QTDND để hợp tác, tương trợ lẫn nhau có hiệu quả trên nguyên tắc quản lý dân chủ, bình đẳng, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình, đảm bảo đủ bù đắp chi phí hoạt động và có tích lũy để phát triển an toàn và bền vững.2 Vai trò của Qũy tín dụng nhân dân Quỹ tín dụng nhân dân có hai vai trò cơ bản, đó là: - Vai trò kinh tế: là một loại hình tổ chức trung gian tài chính, QTDND góp phần khơi thông nguồn vốn tại chỗ, đặc biệt ở khu vực nông thôn, nơi sự hiện diện của các ngân hàng rất hạn chế. Nhờ đó, mọi người dân đều có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng để phát triển sản xuất, kinh doanh và đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng trong cuộc sống. Thực tế cho thấy, QTDND đóng vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế trên cơ sở phát huy tính tự chủ, tự cường và phát huy nội lực của từng địa phương.
- Vai trò xã hội: cùng với vai trò kinh tế, QTDND có vai trò xã hội hết sức tích cực. Thông qua việc cho vay phát triển sản xuất kinh doanh, QTDND gián tiếp góp phần tạo công ăn việc làm, xóa đói- giảm nghèo và hạn chế nạn cho vay nặng lãi; đồng thời tăng cường mối quan hệ liên kết, giáo dục ý thức phát triển cộng đồng.2 Hoạt động thanh tra của Ngân hàng nhà nƣớc đối với QTDND 1.1 Mục đích, nguyên tắc của thanh tra đối với QTDND 1.1 Mục đích - Bảo đảm an toàn hệ thống các QTDND: Hoạt động thanh tra ngân hàng thực hiện việc thanh tra, giám sát việc chấp hành chính sách, pháp luật trong hoạt động của QTDND góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh. - Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền: Do yêu cầu thực tế đòi hỏi, sự thỏa mãn nhu cầu gặp nhau nên người gửi tiền có nơi gửi, đó là QTDND, và người nhận tiền gửi được phép sử dụng số tiền này để cho vay hay đầu tư kiếm lời, trên nguyên tắc có vay có trả kèm theo những thỏa thuận khác. Nhưng vì một l do nào đó dẫn đến người gửi tiền bị thiệt thòi, thậm chí bị tước đoạt khi QTDND bị đổ vỡ, mất khả năng thanh toán.
Để bảo vệ quyền 9 lợi cho người gửi tiền và an toàn hệ thống QTDND, một trong những biện pháp là NHTW phải thường xuyên thanh tra, giám sát các QTDND. - Qua thanh tra, giám sát phát hiện được những sai lầm, vi phạm nguyên tắc thể lệ chế độ của Nhà nước, để từ đó ngăn chặn, kiến nghị, xử lý theo thẩm quyền, phát hiện những điểm bất hợp lý giữa các văn bản chỉ đạo với thực tế nảy sinh, qua đó giúp cho việc ban hành các văn bản của cấp trên phù hợp với thực tế hơn. Chỉ có như vậy thì quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền mới đảm bảo và an tâm khi gửi tiền vào bất cứ QTDND nào. - Phục vụ việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia: TTNH là công cụ, là chức năng thiết yếu quản l Nhà nước của NHNN về tiền tệ và hoạt động Ngân hàng.
Thông qua hoạt động của mình, thanh tra Ngân hàng thực hiện việc giám sát thường xuyên và tiến hành các cuộc thanh tra trực tiếp đối với các QTDND, nhằm phát hiện, ngăn chặn các vi phạm; kiến nghị biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng. - Phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản l nhà nước; bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. - Duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với QTDND; - Bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản l nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.2 Nguyên tắc của thanh tra ngân hàng Cũng như các tổ chức khác trong nền kinh tế, thanh tra, giám sát ngân hàng có những nguyên tắc hoạt động cụ thể của mình, vừa để đảm bảo hoạt động đúng pháp luật, vừa đảm bảo hiệu lực và hiệu quả thanh tra, giám sát. 10 Các nguyên tắc đó gồm: hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng phải đảm bảo tuân thủ pháp luật về thanh tra, giám sát, Luật NHTW mỗi quốc gia, Luật các TCTD và các văn bản pháp luật khác có liên quan, bảo đảm chính xác, khách quan, công khai, dân chủ và kịp thời.
Không một cơ quan, tổ chức nào được can thiệp trái pháp luật vào hoạt động của thanh tra, giám sát ngân hàng.2 Tổ chức công tác thanh tra của Chi nhánh NHNN đối với QTDND Thanh tra NHNN chi nhánh là một phòng trực thuộc NHNN chi nhánh tỉnh, hoạt động còn phụ thuộc nhiều vào sự điều hành, chỉ đạo của lãnh đạo NHNN chi nhánh. Thanh tra NHNN chi nhánh tỉnh vừa chịu sự quản lý của Giám đốc NHNN chi nhánh, vừa chịu sự chỉ đạo nghiệp vụ và các chương trình thanh tra của Cơ quan Thanh tra, giám sát Ngân hàng. Đội ngũ cán bộ thanh tra chi nhánh không phải do Chánh thanh tra, giám sát tại chi nhánh tuyển dụng mà do Vụ tổ chức cán bộ trực thuộc NHNN Việt Nam tổ chức tuyển dụng. Tuy nhiên, việc phân công công việc, điều động, bổ nhiệm cán bộ (trừ Chánh thanh tra) là do Giám đốc chi nhánh quyết định.
Công tác thanh tra tại thanh tra, giám sát chi nhánh được Chánh thanh tra, giám sát phân công đến 02 Phó Chánh thanh tra, cụ thể: phụ trách công tác cấp ph p thành lập các TCTD; phụ trách công tác quản l đối với các TCTD và phụ trách công tác giám sát từ xa; phụ trách công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tó cáo và phòng, chống tham nhũng và tội phạm trong ngành ngân hàng. Bên cạnh đó, công tác giám sát từ xa, công tác thực hiện báo cáo hàng tháng, công tác quản l , giám sát các đầu mối TCTD,.được Chánh thanh tra phân công đến từng cán bộ trong phòng phụ trách, đảm nhiệm. Đánh giá công tác tổ chức: - Ưu điểm: Công tác chỉ đạo của Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng đối với bộ 11 phận thanh tra chi nhánh luôn sát sao, đi sát với tình hình hoạt động của TCTD. Cùng với những hướng dẫn, chỉ đạo cụ thể về nội dung, phương pháp thanh tra giúp chi nhánh thực hiện tốt chất lượng cuộc thanh tra.