Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại; Chương 2: Thực trạng phát triển cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng TMCP Bắc Á - Chi nhánh Hà Giang; Chương 3: Giải pháp phát triển cho vay KHCN tại Ngân hàng TMCP Bắc Á - Chi nhánh Hà Giang. 11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thƣơng mại Có thể hiểu Cho vay KHCN là hình thức cấp tín dụng mà trong đó NHTM giao cho khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh một khoản tiền để sử dụng trong một thời hạn nhất định theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích đáp ứng nhu cầu vay vốn để tiêu dùng và phục vụ sản xuất, kinh doanh.
Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thƣơng mại Tùy theo từng mục đích sử dụng và tiêu thức phân loại, cho vay KHCN có thể phân thành nhiều loại. Cụ thể như sau: Về đối tượng: Với đặc điểm đối tượng vay vốn là các cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu sử dụng vốn phục vụ mục đích tiêu dùng, đầu tư hay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình. Khác với các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế, KHCN thường có số lượng rất lớn, nhu cầu vay vốn rất đa dạng song không thường xuyên và chịu sự ảnh hưởng nhiều của môi trường kinh tế, văn hóa - xã hội. Chính vì vậy, ở mỗi khu vực khác nhau, nhu cầu vay vốn của KHCN cũng rất khác nhau.
Thời gian vay vốn: Thời gian vay vốn của KHCN đa dạng, bao gồm các khoản vay ngắn hạn, trung và dài hạn. Đối với những khoản vay bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh thì thời hạn chủ yếu là vay ngắn hạn. Còn đối với những khoản vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình thì thời hạn vay thường là trung và dài hạn. 12 Nhu cầu vốn và số lượng các khoản vay: Thông thường các khoản cho vay KHCN có quy mô vốn thường nhỏ hơn cho vay đối tượng khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức kinh tế.
Tuy nhiên, đối với các NHTM hoạt động theo định hướng là Ngân hàng bán lẻ thường có số lượng các khoản vay KHCN chiếm tỷ trọng lớn. Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay đối với KHCN nhân thường cao hơn so với các khoản cho vay khách hàng là doanh nghiệp. Nguyên nhân bởi chi phí cho vay KHCN tính trên mỗi đơn vị đồng vốn cho vay là lớn, mức độ rủi ro của khoản vay cao và kém nhạy bén với lãi suất. Rủi ro tín dụng: Các khoản cho vay KHCN thường tiềm ẩn rủi ro tín dụng cao.
Bởi đối tượng cho vay là các cá nhân, hộ gia đình có tình hình tài chính dễ thay đổi tùy theo tình trạng công việc và sức khỏe của họ. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các cá nhân và hộ gia đình thường có trình độ quản lý yếu, thiếu kinh nghiệm, trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu do đó khả năng cạnh tranh trên thị trường kém. Do vậy NHTM sẽ phải đối mặt với rủi ro khi người vay bị thất nghiệp, gặp tai nạn, phá sản. Các hình thức cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thƣơng mại a.
Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay Theo tiêu thức phân loại này các khoản vay khách hàng cá nhân bao gồm: Vay tiêu dùng và vay sản xuất kinh doanh. - Vay tiêu dùng Là các khoản tín dụng cấp cho cá nhân, hộ gia đình để mua sắm hàng hóa tiêu dùng đắt tiền như xe cộ, trang thiết bị trong nhà, cho vay du học. - Vay sản xuất kinh doanh Là các khoản vay phục vụ mục đích bổ sung vốn sản xuất kinh doanh, đầu tư của cá nhân, hộ gia đình như: “bổ sung vốn lưu động, mua sắm tài sản 13 cố định, đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư kinh doanh chứng khoán, vàng. Căn cứ vào phương thức cho vay Theo tiêu thức này, cho vay khách hàng cá nhân chủ yếu bao gồm: Cho vay từng lần, cho vay trả góp, Cho vay theo hạn mức thấu chi, Cho vay theo hạn mức tín dụng.
- Cho vay từng lần Là phương pháp cho vay mà mỗi lần vay khách hàng và Ngân hàng đều phải làm các thủ tục cần thiết và ký hợp đồng tín dụng. Đây là hình thức cho vay theo món khi khách hàng có nhu cầu. - Cho vay trả góp Đây là hình thức cho vay mà Ngân hàng và khách hàng xác định và thỏa thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn vay. - Cho vay theo hạn mức thấu chi Là phương thức cho vay mà Ngân hàng thỏa thuận bằng văn bản chấp nhận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên số dư tài khoản thanh toán của khách hàng tới một hạn mức nhất định, trong thời gian nhất định.
Hiện nay, phương thức cho vay này đang được các NHTM thực hiện ngày càng rộng rãi bởi tính ưu việt của nó. - Cho vay theo hạn mức tín dụng Cho vay theo hạn mức tín dụng là phương pháp cho vay mà Ngân hàng và khách xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng, duy trì hạn mức cho vay được tính từ thời điểm hạn mức cho vay bắt đầu có hiệu lực, cho đến thời điểm hạn mức tín dụng đó hết hiệu lực hoặc hạn mức cho vay khác thay thế. Căn cứ vào thời hạn khoản vay Theo tiêu thức này, cho vay khách hàng cá nhân bao gồm cho vay ngắn 14 hạn và cho vay trung, dài hạn. - Cho vay ngắn hạn Là loại tín dụng có thời hạn đến 01 năm và được sử dụng để phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân và hộ gia đình.
Đây là loại tín dụng có mức rủi ro thấp vì thời hạn hoàn vốn nhanh, tránh được các rủi ro về lãi suất, lạm phát cũng như sự bất ổn của môi trường kinh tế vĩ mô và thị trường, vì thế lãi suất thường thấp hơn các loại tín dụng khác. - Cho vay trung hạn Là khoản vay có thời hạn trên 01 năm đến 05 năm, được sử dụng chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới trang thiết bị, mở rộng sản xuất và xây dựng công trình vừa và nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh. Cho vay trung hạn còn là nguồn quan trọng hình thành nên vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với doanh nghiệp mới thành thập. - Cho vay dài hạn Là loại tín dụng có thời hạn trên 05 năm, đáp ứng nhu cầu đầu tư dài hạn như: xây dựng cơ bản (nhà xưởng, dây chuyền sản xuất…), xây dựng cơ sở hạ tầng (đường xá, cảng biển, sân bay…), cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.
Do thời hạn đầu tư thường kéo dài nên cho vay dài hạn thường áp dụng hình thức giải ngân nhiều lần theo tiến độ dự án. Nhìn chung, cho vay dài hạn chịu rủi ro rất lớn, bởi thời hạn cảng dài thì những biến động không dự tính có thể xẩy ra càng lớn. Căn cứ biện pháp đảm bảo khoản vay Theo tiêu thức này, cho vay khách hàng cá nhân chủ yếu bao gồm: cho vay có tài sản đảm bảo và cho vay không có tài sản đảm bảo (tín chấp). Trong cả hai hình thức cho vay đều có kì hạn linh hoạt: ngắn hạn hoặc trung và dài hạn.
15 - Cho vay có bảo đảm Là cho vay có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh của người thứ ba. Hình thức cho vay này áp dụng đối với những khách hàng không đủ uy tín, khi vay vốn phải có tài sản bảo đảm hoặc phải có người bảo lãnh. Tài sản bảo đảm hoặc bảo lãnh của người thứ ba là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thu dự phòng khi nguồn thu chính (dòng tiền) của con nợ thiếu hụt, do lo sợ phát mại tài sản đã tạo áp lực buộc con nợ phải trả nợ, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng. Tài sản đảm bảo thường là bất động sản, động sản được hình thành từ vốn vay hoặc tài sản thuộc sở hữu của khách hàng trước khi vay.
Có hai loại tài sản đảm bảo: (i) Tài sản thuộc sở hữu sử dụng lâu dài của khách hàng đem đi cầm cố, thế chấp; (ii) Tài sản đảm bảo hình thành từ vốn vay. - Cho vay không có bảo đảm Là cho vay không có tài sản cầm cố, thế chấp hay không có bảo lãnh của người thứ ba. Loại cho vay này áp dụng cho những khách hàng truyền thống, có hệ số tín nhiệm cao và số tiền vay không lớn. PHÁT TRIỂN CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái niệm về phát triển cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thƣơng mại Trong những năm gần đây, nhằm giảm thiểu rủi ro và nâng cao thu nhập, hoạt động cho vay KHCN đang được các NHTM ngày càng quan tâm, mở rộng. Việc phát triển cho vay KHCN giúp các NHTM tăng thị phần, nâng cao sức cạnh tranh, tăng tổng dư nợ tín dụng và tạo điều kiện phát triển cho NHTM trong điều kiện hiện nay. Việc phát triển cho vay KHCN hiện nay đang gặp rất nhiều khó khăn do ngân hàng nhà nước đưa ra rất nhiều quy định để khống chế sự phát triển của cho vay KHCN tại NHTM như quy định trần 16 lãi suất huy động,. Trong khi đó, các khách hàng gửi tiền lại có rất nhiều lựa chọn khác nhau để sử dụng đồng vốn của mình.
Chính vì vậy, việc phát triển cho vay khách hàng cá nhân là vấn đề cấp thiết đối với NHTM. Trong lĩnh vực ngân hàng, phát triển cho vay KHCN kinh doanh phải hội tụ đủ các yếu tố đó là tăng trưởng qui mô, hoàn thiện về chất lượng cho vay và kiểm soát rủi ro. Theo Nguyễn Thị Minh Thảo (2017): “Phát triển cho vay khách hàng cá nhân là việc ngân hàng tăng cường sử dụng nguồn lực của mình vào việc gia tăng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân, cả về doanh số và chất lượng cho vay”. Lê Xuân Mạnh (2020): “Phát triển cho vay khách hàng cá nhân là việc ngân hàng tăng cường hiệu quả sử dụng nguồn lực của mình như vốn, hệ thống mạng lưới, công nghệ,.