Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ hoạt động cho vay khách hàng cá nhân trong ngân hàng thƣơng mại. Chương 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Phù Cát Bình Định. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Phù Cát Bình Định. 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG 1. Khái niệm kiểm soát nội bộ Báo cáo COSO định nghĩa: “KSNB là một quá trình bị chi phối bởi ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên của đơn vị, được thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau đây: - Mục tiêu về sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động; - Mục tiêu về sự tin cậy của báo cáo tài chính; - Mục tiêu về sự tuân thủ các luật lệ và quy định”[2]. KSNB là một quá trình: tức khẳng định KSNB không phải là một sự kiện hay tình huống mà là một chuỗi các hoạt động hiện diện rộng khắp trong doanh nghiệp. KSNB tỏ ra hữu hiệu nhất khi nó đƣợc xây dựng nhƣ một phần cơ bản trong hoạt động của doanh nghiệp chứ không phải là một sự bổ sung cho các hoạt động của doanh nghiệp hoặc là một gánh nặng bị áp đặt bởi các cơ quan quản lý hay thủ tục hành chính.
KSNB phải là một bộ phận giúp doanh nghiệp đạt đƣợc mục tiêu của mình. KSNB bị chi phối bởi con ngƣời trong đơn vị (bao gồm ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên). Con ngƣời đặt ra mục tiêu và đƣa cơ chế kiểm soát vào vận hành hƣớng tới các mục tiêu đã định. Ngƣợc lại, KSNB cũng tác động đến hành vi của con ngƣời.
Mỗi cá nhân có một khả năng, suy nghĩ và ƣu tiên khác nhau khi làm việc và họ không phải luôn luôn hiểu rõ nhiệm vụ của mình cũng nhƣ trao đổi và hành động một cách nhất quán. KSNB sẽ tạo ra ý thức kiểm soát ở mỗi cá nhân và hƣớng các hoạt động của họ đến mục tiêu chung của tổ chức. 8 Đảm bảo hợp lý: KSNB chỉ có thể cung cấp một sự đảm bảo hợp lý cho ban giám đốc và nhà quản lý việc đạt đƣợc các mục tiêu của đơn vị. Điều này là do những hạn chế tiềm tàng trong hệ thống KSNB nhƣ: sai lầm của con ngƣời, sự thông đồng của các cá nhân, sự lạm quyền của nhà quản lý và do mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí của việc thiết lập nên hệ thống KSNB.
[2] Theo Ủy ban Basel (1998), KSNB là quá trình đƣợc thực hiện bởi HĐQT, Ban điều hành và toàn thể nhân viên. Đó không chỉ là một thủ tục hoặc một chính sách đƣợc thực hiện tại một thời điểm nào đó, mà còn tiếp diễn ở tất cả các cấp trong ngân hàng. HĐQT và Ban điều hành chịu trách nhiệm thiết lập môi trƣờng văn hoá tạo thuận lợi cho quá trình KSNB đƣợc hiệu quả và việc theo dõi sự hiệu quả đó đƣợc diễn ra liên tục. Mỗi cá nhân trong một tổ chức phải tham gia vào quá trình đó.
KSNB có 3 mục tiêu chính: - Mục tiêu hoạt động: nhằm đảm bảo các hoạt động trong ngân hàng an toàn và hiệu quả; - Mục tiêu thông tin: nhằm đảm bảo các thông tin quản trị và tài chính đầy đủ, kịp thời và đáng tin cậy; - Mục tiêu tuân thủ: nhằm đảm bảo các hoạt động của ngân hàng tuân thủ các quy định của pháp luật và đạo đức kinh doanh. Mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ Theo Chuẩn mực Kiểm toán về Đánh giá rủi ro và KSNB (ISA 400 trƣớc đây) của IFAC thì Hệ thống KSNB bao gồm toàn bộ các chính sách và thủ tục (các loại hình kiểm soát) đƣợc áp dụng bởi nhà quản lý của đơn vị nhằm đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu đã định nhƣ: thực hiện hoạt động hiệu quả và tuân thủ pháp luật, bám sát chủ trƣơng mà nhà quản lý đã đặt ra; bảo vệ tài sản; ngăn ngừa và phát hiện gian lận và sai sót; đảm bảo sự đầy đủ và chính xác của các thông tin kế toán; lập BCTC tin cậy, đúng thời hạn. 9 Theo Thông tƣ số 44/2011/TT-NHNN thì Hệ thống KSNB là tập hợp các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài đƣợc xây dựng phù hợp theo quy định tại Thông tƣ này và đƣợc tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt đƣợc yêu cầu đề ra. [17] Hệ thống KSNB thực chất là hệ thống các chính sách và thủ tục đƣợc thiết lập nhằm đạt đƣợc bốn mục tiêu cơ bản: Bảo vệ tài sản của đơn vị; đảm bảo độ tin cậy của các thông tin; đảm bảo việc thực hiện các chế độ pháp lý và đảm bảo hiệu quả của hoạt động.
Các chính sách và thủ tục kiểm soát này do nhà quản lý thiết lập trên cơ sở tuân thủ pháp luật, đồng thời thể hiện tƣ tƣởng, quan điểm và triết lý trong quản lý và điều hành các lĩnh vực hoạt động trong đơn vị. Về thực chất, khái niệm này phản ánh phù hợp với bản chất nghĩa của từ “hệ thống” theo đại từ điển Tiếng Việt, với tƣ cách là “thể thống nhất bao gồm những tƣ tƣởng, nguyên tắc, quy tắc liên kết với nhau một cách chặt chẽ có logic”. Hơn nữa, nó có tính tổng quát, có thể sử dụng để nghiên cứu hệ thống KSNB ở mọi loại hình đơn vị trong các lĩnh vực khác nhau nhƣ: quản lý nhà nƣớc, hành chính sự nghiệp, kinh doanh. Mỗi đơn vị phải đặt ra mục tiêu mà mình cần đạt tới (mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động, từng bộ phận trong đơn vị).
Có thể chia các mục tiêu mà đơn vị thiết lập ra thành 3 nhóm sau đây: [2] - Thứ nhất, do hoạt động tín dụng chứa rủi ro cao, rủi ro có thể đến từ phía khách hàng cũng như phía ngân hàng. Đặc điểm kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại Việt Nam chủ yếu tập trung vào hoạt động tín dụng trong đó dƣ nợ của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân là không nhỏ, các dịch vụ ngân hàng hiện đại còn kém phát triển. Dƣ nợ tín dụng luôn chiếm tỷ trọng lớn trên tổng số vốn đầu tƣ và thu nhập chính là từ lãi hoạt động tín dụng nên hoạt động tín dụng nói chung cũng nhƣ từ hoạt động cho vay khách hàng cá nhân nói riêng có ảnh hƣởng toàn bộ 10 đến hoạt động của ngân hàng Việt Nam. Vì hoạt động cho vay khách hàng cá nhân là hoạt động luôn tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao.
Rủi ro rất đa dạng có thể từ phía ngân hàng lẫn từ phía khách hàng hoặc cũng có thể do nguyên nhân khách quan ngoài tầm kiểm soát của khách hàng. Do các ngân hàng là các tổ chức kinh doanh chênh lệch về lãi suất, nguồn vốn mà các ngân hàng sử dụng để cấp tín dụng chủ yếu hình thành từ huy động vốn, vay mƣợn… Vì vậy, bất cứ một chủ thể cấp tín dụng nào, bảo vệ an toàn của dòng vốn tín dụng là yếu tố sống còn của hoạt động tín dụng. Chính vì vậy, việc xây dựng một hệ thống kiểm soát vững mạnh một phần đảm bảo hoạt động của ngân hàng, đồng thời đảm bảo phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn vi phạm kịp thời. - Thứ hai, do sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng thương mại.
Sự cạnh tranh có thể dẫn đến sự xem nhẹ tiêu chuẩn tín dụng, giảm bớt các thủ tục trong quá trình xét duyệt các khoản vay. Nếu không có một hệ thống kiểm soát vững mạnh thì khả năng gặp rủi ro tín dụng của ngân hàng là rất cao. Bên cạnh đó, không chỉ cạnh tranh với các ngân hàng trong nƣớc, mà còn các tổ chức tín dụng ở nƣớc ngoài, đồng thời chịu sự ảnh hƣởng của nền kinh tế thế giới. Vì vậy, yêu cầu tất yếu là tăng cƣờng các hoạt động kiểm soát để đảm bảo an toàn hoạt động cho vay tiêu dùng và bảo vệ lợi nhuận của ngân hàng.
- Thứ ba, do sự sai sót của cán bộ nhân viên có thể do nhầm lẫn, vô tình hay cố ý. Những hoạt động kiểm soát trong đơn vị đƣa ra những quy định chuẩn mực làm việc cụ thể nhằm ngăn chặn những sai sót nhầm lẫn trong quá trình hoạt động của nhân viên. Đồng thời, thông qua đó có thể đƣa ra các cải tiến về chính sách, quy trình tín dụng hƣớng đến công tác quản trị rủi ro tín dụng và bảo vệ tài sản của ngân hàng. Tóm lại, có thể nhận thấy, để ngân hàng hoạt động liên tục và hiệu quả thì không thể thiếu một hệ thống kiểm soát vững mạnh.
Hệ thống kiểm soát 11 đƣợc xem nhƣ “trung ƣơng thần kinh” giám sát tất cả các hoạt động đối với mỗi ngân hàng. Nguyên tắc hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ Hoạt động của hệ thống KSNB phải đảm bảo các nguyên tắc: - Các rủi ro có nguy cơ ảnh hƣởng xấu đến hiệu quả và mục tiêu hoạt động của tổ chức tín dụng phải đƣợc nhận dạng, đo lƣờng, đánh giá thƣờng xuyên, liên tục để kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và có biện pháp quản lý rủi ro thích hợp. Khi có sự thay đổi về mục tiêu kinh doanh, sản phẩm, dịch vụ và hoạt động kinh doanh mới, tổ chức tín dụng phải rà soát, nhận dạng rủi ro liên quan để xây dựng, sửa đổi, bổ sung các quy trình, quy định kiểm soát nội bộ phù hợp. - Hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ là một phần không tách rời các hoạt động hằng ngày của tổ chức tín dụng.