Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ hoạt động cho vay trong ngân hàng. - Chương 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ hoạt động cho vay hộ nghèo tại Phòng giao dịch Ngân hàng CSXH huyện Phù Cát. - Chương 3: Giải pháp tăng cường kiểm soát nội bộ hoạt động cho vay hộ nghèo tại Phòng giao dịch Ngân hàng CSXH huyện Phù Cát. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TRONG NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1.
Một số vấn đề chung về kiểm soát nội bộ 1. Khái niệm kiểm soát nội bộ Lý thuyết về KSNB theo COSO 2013 như sau: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi Hội đồng quản trị, người quản lý và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu về hoạt động, báo cáo và tuân thủ”. Báo cáo COSO xác định ba nhóm mục tiêu mà đơn vị hướng tới: - Nhóm mục tiêu về hoạt động: Nhấn mạnh đến sự hữu hiệu và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực. - Nhóm mục tiêu về báo cáo, gồm báo cáo tài chính và cáo cáo phi tài chính cho người bên ngoài và bên trong: nhấn mạnh đến tính trung thực và đáng tin cậy của báo cáo tài chính mà đơn vị cung cấp cho cả bên trong và bên ngoài.
- Nhóm mục tiêu về tuân thủ: Nhấn mạnh đến việc tuân thủ pháp luật và các quy định. Kiểm soát nội bộ trong lĩnh vực ngân hàng Kiểm soát nội bộ trong lĩnh vực ngân hàng theo Basel II Lĩnh vực ngân hàng là lĩnh vực đã có những nghiên cứu khá đầy đủ và chi tiết về KSNB. Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervision – BCBS) là tổ chức được thành lập vào năm 1974 bởi một nhóm các Ngân hàng Trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) tại thành phố Basel, Thụy Sỹ nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng vào thập kỷ 80 của thế kỷ XX. Hiện nay, các e 9 thành viên của Ủy ban gồm đại diện ngân hàng trung ương hoặc cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng của các nước: Anh, Bỉ, Canada, Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha, Nhật, Pháp, Thụy Điển, Thụy Sỹ và Ý.
Basel không phải là một cơ quan giám sát và những kết luận của Basel không có tính pháp lý hay yêu cầu tuân thủ đối với việc giám sát hoạt động ngân hàng. Thay vào đó, Basel chỉ đưa ra các khuyến nghị, hướng dẫn, các thông lệ tốt trên thế giới. Tùy theo mỗi quốc gia, cơ quan giám sát sẽ đề xuất để áp dụng phù hợp với hoàn cảnh thực tế. Nhiệm vụ quan trọng nhất của Basel là phát triển các quy định trong hoạt động ngân hàng nhằm: - Bảo đảm hệ thống ngân hàng quốc tế ổn định và lành mạnh.
- Đưa ra các nguyên tắc và hướng dẫn về quản trị rủi ro đối với hoạt động ngân hàng. - Giảm bớt sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng quốc tế có vai trò quan trọng đối với toàn hệ thống tài chính (internationally active banks). Năm 1988, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng đã phê duyệt văn bản đầu tiên lấy tên Hiệp ước về vốn của Basel (hay còn được biết tới là Hiệp ước Basel I), yêu cầu các ngân hàng hoạt động quốc tế phải nắm giữ mức vốn tối thiểu là 8% để đối phó với rủi ro tín dụng. Đến năm 1996, Hiệp ước Basel I được sửa đổi, bổ sung phần tính vốn yêu cầu tối thiểu đối với rủi ro thị trường.
Sau một thời gian áp dụng, Basel I đã bộc lộ một số điểm không phù hợp. Để khắc phục các hạn chế này, Basel đã đề xuất khung đo lường mới với 3 trụ cột tại Hiệp ước về vốn Basel II, chính thức ban hành vào tháng 06/2004. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007 - 2008 đã cho thấy sự cần thiết của việc quản lý rủi ro thanh khoản trong hoạt động của NHTM cũng như yêu cầu bổ sung các lớp đệm vốn dự phòng để chống đỡ trong các tình huống căng thẳng. Theo e 10 đó tháng 12/2010 Basel III ra đời, bổ sung các yêu cầu về vốn, đòn bẩy và nguyên tắc, công cụ quản lý rủi ro thanh khoản của các ngân hàng.
Từ năm 2014: Basel bắt đầu ban hành các văn bản nhằm xây dựng Basel IV, trong đó bao gồm việc bổ sung các phương pháp tính vốn yêu cầu cho các loại rủi ro cũng như điều chỉnh các phương pháp đã được ra trước đó. Hiệp ước Basel II hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống ngân hàng quốc tế thông qua khung đo lường và quản lý vốn theo “Ba trụ cột”: Trụ cột thứ 1: Yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn (CAR) Các ngân hàng được khuyến nghị duy trì CAR tối thiểu là 8%. Lượng vốn yêu cầu được tính toán theo 3 rủi ro: Rủi ro tín dụng, Rủi ro hoạt động, Rủi ro thị trường. Tỷ lệ an toàn vốn được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa Vốn tự có và Tổng tài sản có điều chỉnh theo rủi ro.
Việc duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu hướng tới nhiều mục đích khác nhau, tùy theo định hướng của tổ chức tài chính hoặc cơ quan quản lý nhà nước tại quốc gia đó, tuy nhiên việc duy trì luôn hướng tới một mục đích chung là: An toàn. Trụ cột thứ 2: Quy trình đánh giá, giám sát (Supervisory Review Process – SRP) Đối với ngân hàng: thực hiện quy trình đánh giá, giám sát mức độ đầy đủ vốn nội bộ (Internal capital Adequacy Assessment Process – ICAAP), đánh giá mức độ an toàn vốn có tính đến mức độ rủi ro và chiến lược duy trì mức vốn hợp lý, thông qua việc đánh giá các rủi ro trọng yếu tại Trụ cột 1 và các rủi ro khác chưa được đề cập trong Trụ cột 1 như Rủi ro chiến lược, Rủi ro tín dụng đối tác, Rủi ro lãi suất sổ ngân hàng, Rủi ro tập trung …. Đối với cơ quan giám sát (CQGS): thực hiện quy trình rà soát và đánh giá (Supervisory Review Evaluation Process – SREP). Cơ quan giám sát phải đánh giá quy trình tính toán vốn, chiến lược và mức độ tuân thủ của ngân e 11 hàng đối với tỷ lệ an toàn vốn, đồng thời ngân hàng phải có kế hoạch hành động nếu không đáp ứng được yêu cầu của CQGS.
Cơ quan giám sát có thể yêu cầu ngân hàng nắm giữ vốn trên mức tối thiểu. CQGS phải can thiệp sớm để ngăn chặn tỷ lệ an toàn vốn giảm dưới mức tối thiểu và yêu cầu biện pháp khắc phục. Trụ cột 3: Nguyên tắc thị trường (Market Discipline) Đặt ra yêu cầu về việc công bố thông tin của các ngân hàng (bao gồm thông tin định tính và định lượng), đặc biệt thông tin về quản lý rủi ro và vốn của ngân hàng. Hiệp ước Basel III: Trọng tâm của Basel III là thúc đẩy khả năng phục hồi cao hơn ở cấp ngân hàng riêng lẻ để giảm nguy cơ các cú sốc trên toàn hệ thống và ngăn chặn các cuộc khủng hoảng kinh tế trong tương lai.
Basel III đưa ra các yêu cầu mới liên quan đến vốn pháp định mà theo đó các ngân hàng lớn có thể chịu đựng được những thay đổi theo chu kỳ trên bảng cân đối kế toán của họ. Basel III cũng đưa ra các yêu cầu về đòn bẩy và thanh khoản nhằm bảo vệ chống lại việc vay quá hạn mức, đồng thời đảm bảo rằng các ngân hàng có đủ thanh khoản trong thời kỳ căng thẳng tài chính. Lợi ích và hạn chế hệ thống KSNB 1. Lợi ích Hệ thống KSNB thực chất là mọi hoạt động, biện pháp, kế hoạch, quan điểm, nội quy chính sách nỗ lực của mọi thành viên trong tổ chức để đảm bảo tổ chức hoạt động có hiệu quả, đạt được mục tiêu đặt ra một cách hợp lý.
Có thể hiểu hệ thống KSNB là hệ thống của tất cả những gì mà một tổ chức cần làm để có được những điều muốn và tránh những điều muốn tránh. Một hệ thống KSNB vững mạnh sẽ đem lại cho tổ chức các lợi ích như: + Giảm bớt nguy cơ rủi ro tìm ẩn (sai sót vô tình gây thiệt hại, các rủi ro e 12 làm chậm kế hoạch. Tăng giá thành, làm giảm chất lượng sản phẩm…) + Bảo vệ tài sản khỏi bị hư hỏng, thất thoát, mất mát bởi hao hụt, gian lận, lừa gạt, trộm cắp. + Đảm bảo tính chính xác của số liệu kế toán và BCTC.
+ Đảm bảo mọi thành viên tuân thủ nội quy, quy chế, quy trình hoạt động của tổ chức cũng như các quy định của luật pháp. + Đảm bảo tổ chức hoạt động hiệu quả, sử dụng tối ưu các nguồn lực và đạt được mục tiêu đề ra. + Bảo vệ quyền lợi người lao động, gây dựng niềm tin cho nhà đầu tư. + Bảo đảm việc chấp hành tuân thủ chính sách, pháp luật của nhà nước.
Điều này xuất phát từ trách nhiệm của nhà quản lý đối với hành vi không tuân thủ. Do đó KSNB phải hướng mọi thành viên trong đơn vị phải tuân thủ chính sách quy định trong nội bộ đơn vị của nhà nước. Hạn chế Trên thực tế, không có một hệ thống KSNB nào đảm bảo không có gian lận hay sai sót xảy ra bởi một hệ thống KSNB đưa ra sự đảm bảo hợp lý chứ không tuyệt đối về việc bảo vệ tài sản duy trì mức độ tin cậy của thông tin và tuân thủ luật lệ, quy định. Về bản chất nó có hạn chế sau: Thứ nhất, nó được xây dựng và áp dụng nhằm ngăn ngừa, phát hiện và sửa chữa kịp thời các sai phạm trọng yếu nhằm hướng tới mục tiêu nên người ta cũng phải xây dựng một hệ thống sao cho chi phí xây dựng vận hành phải nhỏ hơn lợi ích mang lại.
Thứ hai, đây là quy trình được xây dựng sẵn nên nó chỉ có hiệu quả đối với các nghiệp vụ thông thường chứ không phải các nghiệp vụ bất thường do trong thực tế có nhiều dạng sai phạm mà hệ thống không dự kiến được. Thứ ba, vì hệ thống được xây dựng và vận hành bởi con người (ban lãnh đạo, nhân viên tổ chức) nên có những sai sót từ yếu tố con người; hoặc có sự e 13 thông đồng giữa các nhân viên đặc biệt là quản lý cấp cao; hay sự lạm dụng quyền hạn của người quản lý; sự lạc hậu của thủ tục kiểm soát khi các thủ tục không kịp thay đổi cho phù hợp với điều kiện kinh tế. Ngoài ra, hệ thống KSNB trở nên không phù hợp khi điều kiện kinh tế không thay đổi.