Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu; Chương 2: Những vấn đề lý luận về kiểm soát nội bộ của Ngân hàng Nhà nước; Chương 3: Thực trạng kiểm soát nội bộ của Ngân hàng Nhà nước Lào; Chương 4: Thảo luận kết quả, các giải pháp và kết luận. 4 CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC 2. Ngân hàng Nhà nước và các chức năng, nghiệp vụ 2. Các chức năng của NHNN 2.
NHNN là ngân hàng phát hành NHNN ra đời sau khi vai trò độc quyền phát hành đã được ấn định vào ngân hàng phát hành và là cơ sở để NHNN có thể thực hiện được các chức năng khác. Độc quyền phát hành có nghĩa là NHNN là cơ quan duy nhất được phép phát hành tiền theo các quy định trong Luật hoặc được Chính phủ phê duyệt (mệnh giá tiền, loại tiền, mức phát hành.) nhằm đảm bảo thống nhất và an toàn cho hệ thống lưu thông tiền tệ quốc gia. Giấy bạc và tiền kim khí là phương tiện thanh toán hợp pháp duy nhất trong cả nước và được thanh toán không hạn chế. Vì đây là đồng tiền pháp định và là cơ sở tạo tiền gửi của các ngân hàng trung gian nên các hoạt động cung ứng tiền của NHNN sẽ ảnh hưởng đến tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế và do đó ảnh hưởng đến toàn bộ các hoạt động kinh tế - xã hội.
Do vậy, NHNN phải có trách nhiệm xác định số lượng tiền cần phát hành, thời điểm, phương thức và nguyên tắc phát hành tiền để đảm bảo sự ổn định tiền tệ và phát triển kinh tế. NHNN là ngân hàng của các ngân hàng Với chức năng này, NHNN cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho các | ngân hàng trung gian, bao gồm: * Mở tài khoản và nhận tiền gửi của các ngân hàng trung gian. Ngoài khoản tiền gửi dự trữ bắt buộc theo Luật định, các ngân hàng trung gian còn phải duy trì thường xuyên một lượng tiền gửi trên tài khoản tại NHNN để thực hiện các nghĩa vụ chi trả trong thanh toán với các ngân hàng khác hoặc đáp ứng các nhu cầu giao dịch với NHNN. Trong thực tế, các ngân hàng có thể duy trì mức dự trữ lớn hơn mức cần thiết do điều kiện kinh doanh cụ thể của ngân hàng, do không cho vay hết hoặc không tìm kiếm được cơ hội đầu tư an toàn.
NHNN trả lãi cho các khoản tiền gửi và mức lãi suất này được sử dụng như lãi suất điều tiết của NHNN. 5 * Là trung tâm thanh toán cho hệ thống ngân hàng trung gian. Vì các ngân hàng trung gian đều mở tài khoản và ký gửi các khoản dự trữ bắt buộc và dự trữ vượt mức tại NHNN nên các ngân hàng này có thể thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt qua NHNN. Thông qua dịch vụ thanh toán bù trừ, NHNN góp phần tiết kiệm được chi phí thanh toán cho các ngân hàng trung gian và cho toàn xã hội, thúc đẩy nhanh quá trình luân chuyển vốn trong hệ thống ngân hàng và phản ánh chính xác các quan hệ thanh toán giữa các chủ thể trong nền kinh tế.
Hơn nữa, thông qua hoạt động này NHNN có thể kiểm soát sự biến động vốn khả dụng của từng ngân hàng trung gian và có các biện pháp điều chỉnh hợp lý. * Cung cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian. NHNN cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu các GTCG có giá ngắn hạn. Mục đích của nghiệp vụ này là: + Phát hành thêm tiền TW theo kế hoạch; + Bổ sung thêm vốn khả dụng cho các ngân hàng trung gian một cách thường xuyên; + Là cứu cánh cuối cùng khi các ngân hàng trung gian gặp những khó khăn bất khả kháng và có nguy cơ lan tỏa, ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn hệ thống.
Vì các khoản tín dụng của NHNN gắn trực tiếp với việc phát hành tiền TW, nên các điều kiện chiết khấu thường là chặt chẽ và được giới hạn bởi mức tái chiết khấu, các quy định về chất lượng, thời gian và chủng loại chứng từ có giá được chấp nhận để chiết khấu. Mặt khác, các quy định này cũng sẽ ảnh hưởng đến kết cấu khoản mục chứng từ có giá bên Tài sản có của các ngân hàng trung gian và do đó mà ảnh hưởng đến chất lượng Tài sản có của chúng. Kết hợp với các điều kiện chiết khấu, lãi suất tái chiết khấu thường được sử dụng linh hoạt nhằm tác động vào nhu cầu vay của các ngân hàng trung gian. NHNN là ngân hàng của Chính phủ NHNN có nghĩa vụ cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho Chính phủ, bao gồm: * Làm thủ quỹ cho KBNN, NHNN mở tài khoản tiền gửi cho KBNN để ghi chép các khoản tiền gửi của Chính phủ, các khoản thu chi của Nhà nước dưới dạng thuế, lợi nhuận, hoặc thu khác hàng ngày được gửi vào tài khoản này.
Đồng thời, NHNN có trách nhiệm theo dõi, chi trả lãi, thực hiện thanh toán và cấp vốn theo yêu cầu của Kho bạc và có thể sử dụng số dư trên tài khoản này cho các hoạt động cung ứng tín dụng của NHNN. 6 * Tạm ứng cho Ngân sách: NHNN tạm ứng vốn ngắn hạn cho Chính phủ để đảm bảo hoạt động công cộng liên tục khi nguồn thu chưa đủ, giúp điều hòa dòng tiền và tránh thiếu hụt tạm thời. NHNN cũng hỗ trợ các chương trình đặc biệt như cứu trợ thiên tai, phòng chống dịch bệnh, và các dự án quan trọng. Việc tạm ứng tuân theo các quy định rõ ràng về điều kiện, thủ tục, và thời hạn hoàn trả.
NHNN theo dõi chặt chẽ, đảm bảo vốn sử dụng hiệu quả và hoàn trả đúng hạn, góp phần vào sự ổn định và hiệu quả tài chính công. * Làm đại lý và tư vấn cho Chính phủ: + NHNN làm đại lý cho Chính phủ trong việc phát hành chứng khoán Chính phủ; + Bảo quản dự trữ Quốc gia về ngoại tệ, vàng bạc và tài sản quý khác; + Đại diện cho Chính phủ tại các Tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế, ký kết các điều ước quốc tế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo sự uỷ quyền của Chính phủ; + Tham gia vào quá trình hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội, ban hành các thể chế hoạt động ngân hàng, đồng thời, tư vấn cho Chính phủ về các vấn đề tài chính - tiền tệ. Các nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng nhà nước 2. Nghiệp vụ phát hành tiền NHNN là cơ quan duy nhất phát hành tiền quốc gia và tổ chức điều hoà lưu thông tiền mặt trong toàn bộ hệ thống ngân hàng nhằm mục đích cung ứng phương tiện thanh toán cho nền kinh tế.
Để thực hiện tốt chức năng phát hành tiền, NHNN phải xác định số lượng, cơ cấu các loại tiền cần phát hành, cách thức phát hành và thời điểm phát hành một cách khoa học và phù hợp với nhu cầu thực tiễn. Mọi hoạt động cung ứng tiền của NHNN sẽ ảnh hưởng đến phương tiện thanh toán và do đó ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế. Độc quyền phát hành tiền không có nghĩa rằng việc phát hành tiền vào lưu thông hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của NHNN mà khi phát hành phải bảo tuân theo các nguyên tắc pháp lý và kinh tế, đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế, chứ không dựa vào trữ kim như trong quá khứ. Phát hành trên nguyên tắc đảm bảo bằng hàng hoá thông qua các kênh: - Phát hành cho NSNN vay; - Phát hành qua nghiệp vụ thị trường mở; - Phát hành qua các ngân hàng trung gian; 7 - Phát hành qua thị trường vàng và ngoại tệ.
Nghiệp vụ phát hành tiền chủ yếu thông qua các nghiệp vụ phát hành tiền mặt, và do vậy tiền mặt là một bộ phận quan trọng của tiền TW do NHNN phát hành. Mỗi Quốc gia đều ban hành các quy định, luật pháp, quy chế về nghiệp vụ phát hành tiền mặt. NHNN là cơ quan độc quyền phát hành tiền mặt nên NHNN ban hành các văn bản, quy chế có liên quan đến phát hành tiền mặt và lưu thông tiền mặt. Hoạt động tín dụng Hoạt động tín dụng của NHNN là việc NHNN cung ứng tiền cho nền kinh tế thông qua việc cho vay đối với các TCTD hay KBNN.
Khi cấp tín dụng cho các TCTD tức là NHNN bằng các nghiệp vụ cho vay, bảo lãnh của mình, chấp thuận để TCTD sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả trong một thời gian nhất định. Như vậy hoạt động tín dụng của NHNN thực chất là thực hiện một trong những kênh cung ứng tiền cho nền kinh tế. NHNN thực hiện nghiệp vụ tín dụng đối với: a. Cho vay đối với các TCTD: - Tái cấp vốn: Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng của NHNN đối với các NHTM nhằm cung ứng nhu cầu vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các NHTM.
Tái cấp vốn được tiến hành dưới hai hình thức là cho vay có đảm bảo bằng cầm cố GTCG và cho vay tái chiết khấu GTCG. Việc thiết kế các hình thức tái cấp vốn khác nhau nhằm thoả mãn nhu cầu tín dụng khác nhau, phù hợp với điều kiện của các GTCG mà các NHTM đang sở hữu, đồng thời được sử dụng như công cụ kiểm soát lãi suất thị trường tiền tệ. Vì thế, việc sử dụng hình thức tái cấp vốn nào và lựa chọn loại GTCG nào cho các giao dịch tái cấp vốn còn phụ thuộc vào sự lựa chọn của NHNN từng nước xuất phát từ đặc điểm thị trường tiền tệ, khả năng kiểm soát rủi ro của NHNN và sự phát triển hệ thống công cụ chính sách tiền tệ (CSTT) của quốc gia đó + Cho vay tái chiết khấu GTCG: Là việc NHNN thực hiện việc mua lại các GTCG còn thời hạn thanh toán, thuộc sở hữu của NHTM. Các GTCG này đã được NHTM chiết khấu của khách hàng (trên thị trường thứ cấp).
Tái chiết khấu được coi là hình thức tín dụng có đảm bảo, trong đó NHTM sử dụng các GTCG đủ điều kiện cầm cố để làm đảm bảo cho tiền vay tại NHNN. Tái chiết khấu các GTCG là loại cho vay có mức độ rủi ro thấp nên lãi suất tái chiết khấu là lãi suất cho vay thấp nhất của NHNN. Vì vậy NHNN thường xác định một hạn mức tái chiết khấu và đưa ra các điều kiện cụ thể đối với các GTCG được phép tái chiết khấu tại NHNN. 8 + Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố GTCG: Khi có nhu cầu vay vốn, các NHTM có thể sử dụng các GTCG để cầm cố làm đảm bảo cho khoản vay được yêu cầu tại NHNN.