Chương 1: Cơ sở lý luận về tín dụng chính sách và HQTD chính sách. Chương 2: Thực trạng HQTD chính sách tại NHCSXH giai đoạn 2014-2018. Chương 3: Giải pháp nâng cao HQTD chính sách tại NHCSXH. Luan van 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH VÀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH 1.
Những vấn đề cơ bản về tín dụng chính sách 1. Khái niệm về tín dụng chính sách 1. Khái niệm về tín dụng Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác (Luật TCTD năm 2010). Như vậy, về bản chất, tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau và hoàn trả cả gốc và lãi trong một khoảng thời gian nhất định đã được thỏa thuận giữa người đi vay và người cho vay.
Hay nói một cách khác, tín dụng là một phạm trù kinh tế, trong đó mỗi cá nhân hay tổ chức nhường quyền sử dụng một khối lượng giá trị hay hiện vật cho một các nhân hay tổ chức khác với thời hạn hoàn trả cùng với lãi suất, cách thức vay mượn và thu hồi món vay… Tín dụng ra đời, tồn tại và phát triển cùng với nền sản xuất hàng hóa. Trong điều kiện nền kinh tế còn tồn tại song song hàng hóa và quan hệ hàng hóa tiền tệ thì sự tồn tại của tín dụng là một tất yếu khách quan. Khái niệm về tín dụng chính sách: Hiện nay, ở nước ta đang sử dụng hai loại hình tín dụng chính sách chính, bao gồm tín dụng hỗ trợ đầu tư phát triển và tín dụng hỗ trợ giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội (ASXH), triển khai chủ yếu thông qua 02 ngân hàng chính sách của Nhà nước (Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội). Tuy nhiên, trong phạm vi Đề tài này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu mảng tín dụng chính sách cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác do NHCSXH thực hiện theo quy định tại Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ, theo đó để thuận lợi cho việc theo dõi, tất cả các cụm từ “tín dụng chính sách” sử dụng trong các phần dưới đây đều được hiểu là tín dụng chính sách cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác.
Luan van 10 Căn cứ quy định tại Điều 1, Nghị định số 78/2002/NĐ-CP nêu trên, thì tín dụng chính sách “là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động để cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo, ổn định xã hội”. Như vậy, với khái niệm về tín dụng chính sách nêu trên, có thể khái quát một số nội dung chính về tín dụng chính sách như sau: (i) Mục tiêu của tín dụng chính sách là nhằm giúp cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác có vốn để sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; tín dụng chính sách không vì mục tiêu lợi nhuận mà vì mục tiêu đảm bảo ASXH của Nhà nước; (ii) nguyên tắc tín dụng chính sách là phải hoàn trả đầy đủ vốn vay và phải sử dụng vốn vay đúng mục đích vay vốn; (iii) tín dụng chính sách ngoài việc được hưởng các ưu đãi về lãi suất vay và thời hạn vay thì còn được hưởng các ưu đãi về quy trình, thủ tục và điều kiện vay vốn. Đặc điểm của tín dụng chính sách Thứ nhất, đối tượng vay vốn tín dụng chính sách chủ yếu là người nghèo và các đối tượng chính sách khác sinh sống tại nông thôn, gắn bó chặt chẽ với hoạt động nông nghiệp; khả năng tiếp cận các sản phẩm phòng ngừa rủi ro của nhóm đối tượng này là rất hạn chế. Trong khi đó, nhu cầu vay vốn của các đối tượng này lại tương đối đa dạng, họ cần được hỗ trợ về nhiều mặt để có thể vươn lên thoát nghèo.
Ngoài chi cho hoạt động sản xuất, nhu cầu chi tiêu của người nghèo và các đối tượng chính sách khác còn bao gồm các khoản đột xuất như ốm đau và đối phó với thiên tai dịch bệnh. Đây không phải là các khoản cho vay truyền thống của ngân hàng nhưng lại rất cần thiết đối với các đối tượng chính sách do nhóm đối tượng này thường dễ bị tổn thương bởi các tác nhân bên ngoài và khả năng tự chống chọi của họ với các tổn thương kể trên là rất thấp. Thứ hai, chi phí của việc cấp tín dụng chính sách cho các đối tượng chính sách ở mức cao so với cho vay các đối tượng khác. Điều này là do giá trị các khoản tín dụng thường nhỏ, quay vòng nhiều cộng thêm với đặc điểm nhóm đối tượng này nằm phân tán trên một địa bàn rộng, tập trung nhiều ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa nên việc quản lý khoản tín dụng trở nên rất tốn kém, đòi hỏi TCTD phải có một số lượng nhân viên đủ lớn và dành nhiều nguồn lực tài chính, thời gian Luan van 11 để tìm kiếm khách hàng, làm việc với khách hàng để thẩm định phương án vay vốn cho tới công tác giám sát sử dụng vốn vay.
Thứ ba, cơ sở dữ liệu về người nghèo và các khoản tín dụng cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác thường thiếu hụt và yếu kém cả về số lượng lẫn chất lượng. Bên cạnh đó, các thông tin về năng lực pháp lý và tài chính của họ cũng rất khó để thu thập và xác minh do cơ sở dữ liệu tại các địa phương (đặc biệt là tại các vùng hẻo lánh) thường không được lưu trữ đầy đủ và chính xác như các đối tượng khách hàng doanh nghiệp được đăng ký với cơ quan quản lý của nhà nước. Do vậy, tình trạng thông tin bất cân xứng cao hơn so với các đối tượng khách hàng khác của ngân hàng. Thứ tư, trình độ và nhận thức của người nghèo và các đối tượng chính sách còn hạn chế nên việc sử dụng vốn vay chưa đạt hiệu quả cao.
Bên cạnh đó, việc chưa làm quen với tiết kiệm từ những khoản tiền nhỏ để trả nợ theo định kỳ cũng gây rủi ro cho người vay khi đến hạn trả nợ. Xuất phát từ lý do này, các TCTD khi cho các đối tượng chính sách vay tiền thường yêu cầu họ thực hiện tiết kiệm bắt buộc hoặc tự nguyện để giúp họ làm quen dần với việc quản lý tài chính cũng như tích lũy tiền để có thể trả nợ khi đến hạn. Thứ năm, các đối tượng chính sách không sở hữu nhiều tài sản đáp ứng được tiêu chuẩn thông thường của TCTD về tài sản bảo đảm. Do đó, nguồn thu nợ thứ hai của các TCTD trong trường hợp nhóm đối tượng này không trả được nợ đã bị hạn chế đi nhiều.
Thứ sáu, tín dụng chính sách cho các đối tượng chính sách không chỉ dừng lại ở việc cung cấp vốn tín dụng chính sách với ưu đãi cho họ mà còn phải phối hợp với các nguồn lực của xã hội nói chung và nguồn lực của nhà nước nói riêng để giúp họ phát triển toàn diện, qua đó thoát nghèo một cách bền vững. Nếu không có những biện pháp hỗ trợ kịp thời và hợp lý, tín dụng chính sách dù có được đưa tới các đối tượng chính sách cũng khó có thể được họ sử dụng hiệu quả. Thứ bảy, tín dụng chính sách cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác thường được triển khai qua hình thức cho vay theo từng nhóm nhằm gắn kết trách nhiệm của các cá nhân, qua đó giảm bớt rủi ro do thông tin bất cân xứng gây ra. Vai trò của tín dụng chính sách Trong những năm qua, tín dụng chính sách là một giải pháp sáng tạo, có tính nhân văn sâu sắc và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, có vai trò quan trọng trong việc thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách, các mục tiêu, nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước đã đề ra về giảm nghèo, tạo việc làm, phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm ASXH, ổn định chính trị và phát triển kinh tế, xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tín dụng chính sách là động lực giúp người nghèo và các đối tượng chính sách khác vượt qua nghèo đói: Người nghèo và các đối tượng chính sách khác đói do nhiều nguyên nhân, như: Già, yếu, ốm dau, không có sức lao động, do đông con dẫn đến thiếu lao động, do mắc tệ nạn xã hội, do lười lao động, do thiếu kiến thức trong sản xuất kinh doanh, do điều kiện tự nhiên bất thuận lợi, do không được đầu tư, do thiếu vốn.trong thực tế ở nông thôn Việt Nam bản chất của những người nông dân là tiết kiệm cần cù, nhưng nghèo đói là do không có vốn để tổ chức sản xuất, thâm canh, tổ chức kinh doanh.Vì vây, vốn đối với họ là điều kiện tiên quyết, là động lực đầu tiên giúp họ vượt qua khó khăn để thoát khỏi đói nghèo. Khi có vốn trong tay, với bản chất cần cù của người nông dân, bằng chính sức lao động của bản thân và gia đình họ có điều kiện mua sắm vật tư, phân bón, cây con giống để tổ chức sản xuất thực hiện thâm canh tạo ra năng xuất và sản phẩm hàng hoá cao hơn, tăng thu nhập, cải thiện đời sống. Tín dụng chính sách giúp các đối tượng chính sách không phải vay từ các tổ chức, cá nhân cho vay nặng lãi với mức lãi suất quá cao so với khả năng tài chính của mình. Không tiếp cận được với nguồn tín dụng thương mại đòi hỏi các yêu cầu khắt khe về hồ sơ pháp lý, năng lực tài chính, tài sản bảo đảm… khiến người nghèo và các đối tượng chính sách khác phải vay với lãi suất cao từ các tổ chức, cá nhân trên địa bàn địa phương, góp phần tạo điều kiện cho thị trường tín dụng phi chính thức này phát triển.
Vay nợ với lãi suất cao hơn nhiều so với mức sinh lời tạo ra từ lao động đặt ra áp lực trả nợ lớn cho nhóm đối tượng này và xa hơn là khiến cho họ ngày càng gặp khó khăn hơn về tài chính, chứ không thực sự giúp họ vượt qua khó Luan van 13 khăn.