CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THẨM ĐỊNH CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÀ CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái quát về Doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm chung Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động. Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước mình. Hiện nay, theo thông lệ quốc tế vẫn chưa có sự thống nhất trong việc lựa chọn các tiêu thức đánh giá loại hình doanh nghiệp (lớn, nhỏ, vừa) và lượng hóa các tiêu thức thông qua các tiêu chuẩn cụ thể.
Nói chung, để xác định một doanh nghiệp là DNVVN chủ yếu căn cứ vào hai nhóm tiêu chí: - Nhóm tiêu chí định tính: nhóm này được xây dựng trên các đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp, như trình độ chuyên môn hóa, đầu mối quản lý, cũng như mức độ phức tạp trong quản lý. Ưu thế của nhóm tiêu chí này là phản ánh đúng bản chất của DNNVV, tuy nhiên thường khó đánh giá, vì vậy, nhóm tiêu chí này chủ yếu được dùng để tham khảo, kiểm chứng, ít được sử dụng làm căn cứ phân loại. - Nhóm tiêu chí định lượng: nhóm tiêu chí này được xây dựng trên cơ sở các chỉ tiêu như số lượng lao động, vốn đăng ký, tổng giá trị tài sản, doanh số, lợi nhuận. Đây là nhóm tiêu chí quan trọng, bởi hiện nay để xác định quy mô của các doanh nghiệp chủ yếu người ta dùng nhóm tiêu chí này.
Các chỉ tiêu số lao động, 4 vốn đăng ký phản ánh quy mô sử dụng các yếu tố đầu vào; các chỉ tiêu doanh số, lợi nhuận phản ánh quy mô theo kết quả đầu ra. Việc phân loại doanh nghiệp theo mỗi nhóm có mặt tích cực và hạn chế riêng. Vì vậy, trên cơ sở các tiêu thức này mà hiện nay tùy điều kiện từng nước có sự kết hợp sử dụng các tiêu thức một cách khác nhau. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam Tại Việt Nam, việc phân loại DNNVV được quy định cụ thể tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009, theo đó DNNVV được định nghĩa như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành 3 cấp: siêu nhỏ, nhỏ và vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương với tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của Doanh nghiệp), hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như bảng 1.1 sau đây: Bảng 1.1: Bảng tiêu chí xác định DNNVV tại VN theo NĐ 56/2009/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 30/06/2009 Quy mô DN DN nhỏ DN vừa siêu nhỏ Số lao Tổng Tổng nguồn Số lao động Số lao động Khu vực động nguồn vốn vốn Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 Nông, lâm nghiệp, 10 người 20 tỷ đồng Từ trên 10 người đồng đến 100 người đến 300 thủy sản trở xuống trở xuống đến 200 người tỷ đồng người Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 Công nghiệp và 10 người 20 tỷ đồng Từ trên 10 người đồng đến 100 người đến 300 xây dựng trở xuống trở xuống đến 200 người tỷ đồng người Từ trên 10 tỷ Từ trên 50 Thương mại và 10 người 10 tỷ đồng Từ trên 10 người đồng đến 50 tỷ người đến 100 dịch vụ trở xuống trở xuống đến 50 người đồng người 1.
Xu hướng phát triển và đặc điểm của loại hình Doanh nghiệp nhỏ và vừa 5 Số lượng doanh nghiệp thực hiện đăng ký kinh doanh và số vốn đăng ký có xu hướng tăng dần, năm sau cao hơn năm trước. Tỷ trọng loại hình doanh nghiệp dần dần có sự thay đổi. Doanh nghiệp tư nhân ngày càng ít được lựa chọn là loại hình để nhà đầu tư thành lập, trong khi đó, loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần ngày càng được lựa chọn nhiều hơn như là một hình thức để nhà đầu tư gia nhập thị trường. Nếu như trong năm 2000, loại hình doanh nghiệp tư nhân chiếm tới 36%, công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm 56% và công ty cổ phần chiếm 8% trên tổng số doanh nghiệp thành lập và đăng ký kinh doanh thì trong năm 2006, tỷ lệ này lần lượt là 22%, 55,3%, 20,7% và trong năm 2007 là 17,2%, 43,8%, 25%.
Tổng nguồn vốn bình quân của một doanh nghiệp cũng tăng dần, từ 962 triệu đồng/doanh nghiệp (năm 2000) đến 3,14 tỷ đồng/doanh nghiệp (năm 2006) và 8,14 tỷ đồng/doanh nghiệp (năm 2007). Tổng nguồn vốn bình quân này ngày càng tiệm cận với tiêu chí vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng trong việc xem xét một doanh nghiệp có phải là DNNVV hay không theo quy định tại Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 về trợ giúp phát triển DNNVV. Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh vẫn luôn là hai địa phương dẫn đầu cả nước về số lượng doanh nghiệp thành lập và đăng ký kinh doanh. Sau đó là các địa phương Hải Phòng, Đà Nẵng, Bình Dương, Đồng Nai, Khánh Hòa, Cần Thơ và Quảng Ninh.
Trong giai đoạn từ năm 2000 đến hết năm 2007, các địa phương này đều có trên 3.000 doanh nghiệp thành lập và đăng ký kinh doanh. Các Doanh nghiệp ngày càng gia tăng về số lượng là một tín hiệu đáng mừng, tuy nhiên chất lượng của các DNNVV hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, khả năng cạnh tranh thấp. Nhiều doanh nghiệp vẫn còn thiếu vốn để sản xuất kinh doanh, trình độ lao động và quản lý còn thấp, kỹ thuật công nghệ còn lạc hậu…. Theo số liệu của Trung tâm thông tin doanh nghiệp - Cục phát triển DNNVV thì Thái Nguyên hiện có khoảng 310 DNNVV.
Thẩm định cho vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm công tác thẩm định cho vay 6 Công tác thẩm định cho vay bắt đầu từ khi doanh nghiệp phát sinh nhu cầu vay vốn ngân hàng và tiến hành nộp hồ sơ vay vốn tại ngân hàng. Hồ sơ xin vay vốn của khách hàng là những tài liệu do khách hàng cung cấp, làm cơ sở cho ngân hàng xem xét thẩm định cho vay. Như vậy, công tác thẩm định cho vay thực chất là trên cơ sở các quy định, quy trình cho vay đã ban hành, ngân hàng sẽ tổ chức xem xét một cách khách quan, toàn diện các vấn đề có liên quan đến doanh nghiệp và nhu cầu xin vay của doanh nghiệp.
Từ đó, ngân hàng có thể đưa ra quyết định cho vay hay không cho vay đối với doanh nghiệp. Vai trò của công tác thẩm định cho vay Tín dụng là hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng, nó chiếm khoảng 70% tổng lợi nhuận của ngân hàng. Hoạt động tín dụng có thể mang lại lợi nhuận rất cao nhưng đồng thời cũng là nguyên nhân chính dẫn tới sự sụp đổ, phá sản của ngân hàng khi hoạt động cho vay không có hiệu quả dẫn đến tình trạng nợ xấu, nợ khó đòi. Do vậy trước khi thực hiện giải ngân cho khách hàng, ngân hàng cần phải tiến hành công tác thẩm định đối với khách hàng.
Việc thẩm định đầy đủ đối với khách hàng sẽ giúp cho ngân hàng đưa ra các quyết định cho vay đúng đắn, vừa hiệu quả, vừa an toàn, tránh được rủi ro, thiệt hại cho ngân hàng khi đầu tư vốn vào những khách hàng thiếu năng lực tài chính, phương án kinh doanh không khả thi. Ngoài ra do nguồn vốn dùng để cho vay của mỗi ngân hàng là hữu hạn, trong khi nhu cầu vay vốn của nền kinh tế là rất nhiều. Do đó vai trò của công tác thẩm định cho vay còn nhằm mục đích giúp ngân hàng đầu tư vốn vào những nơi an toàn, hợp pháp và hiệu quả nhất, phù hợp với định hướng phát triển mà NHTM đã đặt ra. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HOẠT ĐỘNG THẨM ĐỊNH CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Thẩm định về hồ sơ vay vốn của Doanh nghiệp nhỏ và vừa 7 Khi khách hàng gửi hồ sơ vay vốn tới ngân hàng, ngân hàng sẽ tiến hành đánh giá mức độ đầy đủ, thiếu sót cũng như các yếu tố cơ bản có liên quan đến hồ sơ như hồ sơ pháp lý, hồ sơ tài chính, phương án vay vốn, hồ sơ về tài sản đảm bảo … để yêu cầu khách hàng bổ sung nếu còn thiếu sót. Bộ hồ sơ xin vay vốn của khách hàng Bộ hồ sơ xin vay vốn của khách hàng bao gồm: Hồ sơ pháp lý, hồ sơ tài chính, hồ sơ về phương án vay vốn (tài liệu thuyết minh về vay vốn), hồ sơ về TSĐB. Trong đó: Hồ sơ pháp lý của DNNVV bao gồm: Quyết định thành lập DN; Đăng ký kinh doanh, Giấy phép hành nghề (nếu có); Điều lệ tổ chức và hoạt động, Quyết định bổ nhiệm người điều hành hoặc kế toán trưởng; Nghị quyết của HĐQT hoặc HĐTV giao quyền cho TGĐ/GĐ ký kết các tài liệu liên quan đến việc vay vốn, cầm cố, thế chấp tài sản; Giấy chứng nhận mã số DN xuất khẩu, nhập khẩu; Giấy phép hoặc hạn ngạch xuất nhập khẩu (nếu có). Hồ sơ tài chính bao gồm: Bảng cân đối kế toán; Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Tài liệu thuyết minh về sử dụng vốn vay bao gồm: Kế hoạch kinh doanh.