CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI 1. TỔNG QUAN CHO VAY HỘ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI 1. Khái niệm tín dụng chính sách Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa ngân hàng và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán.Tô Ngọc Hưng. Giáo trình Tín dụng Ngân hàng, NXB Lao động xã hội 2014, trang10] Nội dung các mối quan hệ giao dịch này phản ánh mục đích của người cho vay và người đi vay, cụ thể: Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định; Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn sử dụng theo thoả thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay; Giá trị hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay ban đầu (lãi vay).
Vì vậy, tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa các chủ thể trong nền kinh tế trên nguyên tắc hoàn trả cả vốn lẫn lãi. Bên cạnh đó, khái niệm về tín dụng chính sách cũng dựa trên khái niệm về tín dụng nêu trên. Tuy nhiên, giữa khái niệm tín dụng và tín dụng chính sách có những đặc trưng riêng khác nhau và xuất phát điểm khác nhau. Để làm rõ và phân tích khái niệm về tín dụng chính sách, cần tìm hiểu kỹ hơn cơ sở hình thành tín dụng chính sách bắt đầu từ khái niệm “Tài chính vi mô”: - Tài chính vi mô được nhắc đến lần đầu tiên vào năm 1976, khi Muhammad Yunus thành lập tổ chức lên Ngân hàng Grameen ở vùng ngoại ô Thủ đô Dhaca của 13 Bangladesh.
Sau đó, một số tổ chức tài chính vi mô đã hình thành và có được thành công khi tiếp cận với những người nghèo nhất trong xã hội. Tuy nhiên, phải đến khi Ủy ban Nobel trao cho Ngân hàng Grameen và người sáng lập Muhammad Yunus Giải thưởng Nobel Hòa bình năm 2006 “Vì những nỗ lực của họ trong việc tạo ra sự phát triển kinh tế và xã hội”, tài chính vi mô mới thực sự tạo được được sự quan tâm, chú ý của thế giới và niềm tin vào khả năng chống lại đói nghèo, hỗ trợ người nghèo được tối ưu nhất. Thuật ngữ tài chính vi mô nghĩa là cung cấp cho người nghèo những món vay nhỏ để giúp họ tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh nhỏ, với điều kiện sản xuất đơn giản, dễ thực hiện. - Theo Ủy ban châu Âu, khái niệm về tài chính vi mô được hiểu theo nghĩa rộng hơn: Đó là việc cung cấp dịch vụ tài chính trên một phạm vi rộng bao gồm tiết kiệm, cho vay, dịch vụ trả tiền, chuyển giao tiền và bảo hiểm tới người nghèo và các hộ gia đình có thu nhập thấp và các doanh nghiệp nhỏ, tài chính vi mô cần được hiểu rộng hơn sự tiếp cận và phân phối tiền.
Nó bao hàm những vấn đề sâu hơn như tiền được sử dụng, đầu tư và tiết kiệm như thế nào. Ủy ban Châu Âu cũng cho rằng tài chính vi mô là một cách để giúp người dân tiếp cận đến cơ hội mới, cải thiện sự tự tin để tham gia vào đời sống xã hội. Phát triển tài chính vi mô bền vững đã trở thành một mục tiêu quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội và được coi là công cụ đắc lực trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội khi Liên Hợp quốc chọn năm 2005 là “Năm Quốc tế về Tín dụng vi mô”. Ngành tài chính vi mô đã và đang khẳng định được tầm quan trọng trong việc hỗ trợ người nghèo, người có thu nhập thấp và các đối tượng yếu thế trong xã hội được tiếp cận các dịch vụ tài chính, ngân hàng một cách đơn giản, thuận tiện và phù hợp.
Do vậy, phát triển tài chính vi mô bền vững là mục tiêu quan trọng của ngành tài chính vi mô của các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng trong quá trình hội nhập và phát triển, đặc biệt quan trọng đối với những nước có tỷ lệ người nghèo cao, khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính còn hạn chế. Nhìn chung chưa có sự phân tách rõ ràng giữa khái niệm tài chính vi mô và tín dụng vi mô trong các tài liệu đã công bố, nhưng hầu hết các tác giả khi nói đến 14 tài chính vi mô hay tín dụng vi mô đều thống nhất, đây là dịch vụ cung cấp các món vay nhỏ để trợ giúp người nghèo hoặc những đối tượng không có khả năng tiếp cận đến thị trường vốn thông thường vay để khởi xướng hoặc mở rộng hoạt động tạo thu nhập của họ. Để thực hiện chức năng quản lý đất nước, Chính phủ các nước trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình kinh tế - xã hội của đất nước đưa ra các chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ… và sử dụng các giải pháp và phương tiện, công cụ cần thiết để tổ chức thực hiện các chủ trương, mục tiêu gắn liền với hoạt động thực tiễn. Một cách đơn giản hơn, Chính phủ quản lý đất nước bằng các chính sách.
Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của Chính phủ bao gồm các mục tiêu cụ thể muốn đạt được và đưa ra cách làm để thực hiện. Tùy theo lĩnh vực, mục tiêu, Chính phủ sẽ có những chính sách khác nhau như chính sách về kinh tế, chính sách về văn hóa – xã hội, chính sách về an ninh quốc phòng, chính sách về hệ thống chính trị,… Trong kinh tế cũng có nhiều loại chính sách khác nhau, như chính sách về tăng trưởng kinh tế, đầu tư, cơ sở hạ tầng thiết yếu, về tín dụng…Cụ thể trong đề tài tác giả nghiên cứu về loại chính sách tín dụng. Có thể nói, Tín dụng chính sách là một loại tín dụng đặc thù với việc cung cấp các khoản vay nhỏ (tài chính vi mô) cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác; mặc dù vẫn phải tuân theo nguyên tắc chung nhất là có vay, có trả gốc, trả lãi, nhưng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ có những quy định riêng đối với từng chương trình tín dụng cụ thể cho từng đối tượng, vùng miền có đặc thù, cụ thể: về đối tượng, mức vay, lãi suất, thời gian và có cơ chế xử lý rủi ro riêng, không theo cơ chế chung của hệ thống ngân hàng thương mại. Nguồn vốn cho vay được Chính phủ bảo lãnh, đồng thời, quản trị nguồn vốn là các Bộ, ngành chủ quản và tại các địa phương từ cấp tỉnh đến cấp xã cùng phối hợp quản lý.
Hiện nay, thông thường có ba loại hình tín dụng chính sách phục vụ cho ba mục tiêu mà Chính phủ muốn hỗ trợ là: (1) Tín dụng hỗ trợ đầu tư phát triển, (2) Tín dụng hỗ trợ xuất khẩu và (3) Tín dụng hỗ trợ giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội. Và Ngân hàng Chính sách xã hội là ngân hàng được Chính phủ thành lập theo Quyết định 15 số 131/2002/QĐ-TTg ngày 04/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo, nhằm thực hiện Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 4/10/2002 của Chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác với mục tiêu là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động để cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội và đảm bảo an sinh xã hội. Nhằm đánh giá được nhiều mặt hiệu quả của tín dụng chính sách đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác, đặc biệt là hộ đồng bào DTTS ở vùng DTTS&MN tại Việt Nam, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về loại hình tín dụng chính sách hỗ trợ giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội thực hiện đúng quan điểm, chủ trương, mục tiêu của Đảng và Nhà nước là sử dụng nguồn lực tài chính với phương thức đặc thù hỗ trợ cho những đối tượng là hộ có hoàn cảnh khó khăn nhất. Từ khái niệm trên có thể thấy tín dụng chính sách bao gồm những đặc trưng cơ bản cụ thể sau: - Đây là kênh tín dụng không vì mục tiêu lợi nhuận: Mục tiêu của tín dụng chính sách là không vì mục tiêu lợi nhuận mà là nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện chương trình mục tiêu xóa đói giảm nghèo, ổn định kinh tế - chính trị và bảo đảm an sinh xã hội.
- Đối tượng vay vốn tín dụng chính sách là người nghèo và các đối tượng chính sách khác theo chỉ định của Chính phủ, trong đó có đồng bào DTTS ở vùng DTTS&MN. - Nguồn vốn để cho vay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác chủ yếu là nguồn vốn của Nhà nước, tức là nguồn vốn từ Ngân sách nhà nước và có nguồn gốc từ Ngân sách nhà nước. - Người nghèo và các đối tượng chính sách khác khi vay vốn được ưu đãi về lãi suất cho vay, điều kiện vay vốn (không phải thế chấp tài sản), quy trình thủ tục cho vay đơn giản phù hợp với trình độ người dân, địa điểm giao dịch và cách tiếp cận với nguồn vốn. Đồng bào dân tộc thiểu số Dân tộc là quốc gia theo nghĩa rộng, gồm cộng đồng người dân cùng nhau sinh sống trên một lãnh thổ rộng lớn, được vận hành bởi sự quản lý của bộ máy nhà nước, trong một dân tộc thì có thể gồm nhiều tộc người, mỗi tộc người lại có những nét văn hóa và ngôn ngữ khác nhau tạo ra nét phong phú, độc đáo (Theo bách khoa toàn thư mở - Wikipedia).
Và theo định nghĩa tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc thì “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.