Chương 1 giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài, cùng với sự giới thiệu kết cấu chính của báo cáo nghiên cứu. Chương 2 trình bày các khái niệm, cơ sở lý thuyết, mô hình lý thuyết và các kết quả của những nghiên cứu trước đó có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Đồng thời đề xuất mô hình nghiên cứu của đề tài. Chương 3 trình bày mô hình nghiên cứu của đề tài, các phương pháp nghiên cứu được ứng dụng trong đề tài, mô tả phương thức thu thập số liệu và các kỹ thuật phân tích dữ liệu.
Chương 4 sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng, kiểm định độ phù hợp tổng quát của mô hình, kiểm định mức độ phù hợp của mô hình nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của tăng trưởng tín dụng và các yếu tố khác đến tăng trưởng kinh tế. Trang 4 Chương 5 tóm tắt các kết quả nghiên cứu đã đạt được. Đồng thời đề xuất gợi ý cơ chế, chính sách từ kết quả nghiên cứu, nêu những hạn chế của đề tài và gợi ý cho các nghiên cứu tiếp theo. Trang 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU TRƯỚC Trong chương này trình bày các khái niệm, cơ sở lý thuyết, mô hình lý thuyết và các kết quả của những nghiên cứu trước đó có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Đồng thời đề xuất mô hình nghiên cứu của đề tài. Tăng trưởng kinh tế 2. Định nghĩa về tăng trưởng kinh tế Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới năm 2010, tăng trưởng của các nước đang phát triển giảm còn 4.9% năm 2009 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Trong khoảng thời gian này, bằng các hoạt động điều tiết vĩ mô, các chính sách kích thích tăng trưởng, chính phủ tỏ ra có tác động khá rõ nét trong việc ổn định và làm cân bằng trở lại nền kinh tế khi rơi vào khủng hoảng.
Tăng trưởng kinh tế là một chỉ tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng được rất nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm. Theo Phan Thúc Huân (2006), tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng sản lượng của nền kinh tế trong một thời kì nhất định. Như vậy, tăng trưởng kinh tế có thể được hiểu là sự gia tăng của GDP, GNP hoặc thu nhập bình quân đầu người trong một thời gian nhất định. Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc gia trong quá trình phát triển. Tăng trưởng kinh tế luôn gắng với các mục tiêu an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, các lợi ích phát triển lâu dài của quốc gia. Griffith và Reenen (2004) định nghĩa tăng trưởng kinh tế là tăng GDP trên giờ lao động trên một đơn vị thời gian. Theo Simon Kuznets (1954), tăng trưởng là sự gia tăng một cách bền vững về sản lượng bình quân đầu người hay sản lượng trên mỗi nhân công.
Chúng ta có thể ước tính rằng tăng trưởng kinh tế là quá trình tăng quy mô của nền kinh tế quốc gia, các chỉ số kinh tế vĩ mô, đặc biệt là GDP bình quân đầu người theo chiều hướng tăng lên chứ không phải là tuyến tính, có tác động tích cực đến khu vực kinh tế - xã hội, Cho chúng ta thấy làm thế nào để tăng tác động lên xã hội bằng cách tăng tiêu chuẩn cuộc sống. Tăng trưởng kinh tế là kết quả của sự đổi mới, lực lượng lao động lành nghề và năng suất nghiên cứu. Theo Engelbrecht (1997), vốn con người đi vào sản xuất không chỉ là một nhân tố sản xuất mà còn là những lý thuyết nội sinh dự đoán. Theo Hồ Đức Hùng và ctg.
(2005) thì tăng trưởng kinh tế là tăng thêm hay là sự gia tăng về quy mô sản lượng của một nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Sản lượng ở đây được hiểu là tổng sản lượng hay sản lượng bình quân đầu người. Tăng tổng sản lượng được hiểu là tăng trưởng theo chiều rộng và tăng sản lượng bình quân đầu người được hiểu là tăng trưởng theo chiều sâu. Mỗi cá nhân sẽ nhận thấy được giá trị của tăng trưởng thông qua phúc lợi xã hội mà họ được hưởng thụ chứ không hiểu rõ sự lớn mạnh của nền kinh tế.
Nói cách khác tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng quốc gia hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người qua một thời gian nhất định (Đinh Phi Hổ, 2010). Các chỉ số đo lường tăng trưởng kinh tế Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): được định nghĩa là giá trị thị trường của toàn bộ hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được tạo ra hay sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia trong khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) (Nguyễn Trọng Hoài, 2010). Tổng sản phẩm quốc dân (GNP): là tổng giá trị tính bằng tiền của những hàng hoá và dịch vụ mà một nước sản xuất ra từ các yếu tố sản xuất của mình (dù là sản xuất ở trong nước hay ở nước ngoài) trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) (Nguyễn Trọng Hoài, 2010). Với các chỉ số GDP/GNP, tăng trưởng kinh tế chỉ đơn thuần đề cập đến gia tăng năng lực để tạo ra giá trị gia tăng thông qua các hoạt động kinh tế.
Để đánh giá tăng trưởng kinh tế, GDP/GNP tính theo giá cơ sở của cùng một năm gốc (GDP/GNP thực) thường được quan tâm nhiều hơn do loại bỏ được biến động giá cả. Tăng trưởng kinh tế không chỉ đơn thuần là làm ra nhiều hơn cái vốn có mà cần trở thành một quá trình dịch chuyển cơ cấu làm thay đổi tất cả các khía cạnh sản xuất và tiêu dùng. Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế, trình độ công nghệ phát sinh do nhiều nguyên nhân. Thu nhập tăng làm thay đổi xu hướng tiêu dùng, gây áp lực “buộc” sản xuất, công nghệ thay đổi Trang 7 cho phù hợp.
Đến lượt mình, sản xuất và công nghệ lại có thể kích thích cách thức tiêu dùng mới, v.v… Tốc độ dịch chuyển cơ cấu kinh tế phụ thuộc vào năng lực thể chế (thị trường, nhà nước), mức độ mở cửa, v.v… Cũng theo Nguyễn Phú Tụ và Huỳnh Công Minh (2010) hiện nay có rất nhiều nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế của một nước nhưng tựu chung lại gồm có các nhân tố cơ bản sau: Thứ nhất, nguồn nhân lực: Nhiều nhà kinh tế cho rằng nguồn nhân lực hay vốn con người là yếu tố quan trọng nhất trong tăng trưởng kinh tế. Vốn con người bao gồm thể trạng, trình độ học vấn, kỹ năng, kinh nghiệm, ý thức tổ chức và kỷ luật lao động. Có thể nói: “nguồn lực con người là nguồn lực của mọi nguồn lực”, là “tài nguyên của mọi tài nguyên”. Vì vậy, con người có sức khoẻ, trí tuệ, tay nghề cao, có động lực và nhiệt tình, được tổ chức chặt chẽ sẽ là nhân tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế (Nguyễn Văn Tiến, 2010).
Thứ hai, vốn đầu tư: Vốn đầu tư là một trong những nhân tố quan trọng của quá trình sản xuất. Vốn đầu tư bao gồm: đầu tư tư nhân, đầu tư chính phủ và đầu tư nước ngoài. Các quốc gia đang phát triển muốn tích lũy vốn trong tương lai cần có sự hy sinh tiêu dùng cá nhân trong hiện tại. Vốn đầu tư của toàn xã hội không chỉ là máy móc, thiết bị dùng cho sản xuất, mà còn bao gồm cả lượng vốn đầu tư để phát triển lợi ích chung của toàn xã hội.
Đó là lượng vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của quốc gia, mà phần lớn là do chính phủ đầu tư. Ngoài ra, nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài cũng đóng vai trò quan trọng không kém. Các nhà kinh tế học đã chỉ ra mối liên hệ giữa tăng GDP với tăng vốn đầu tư. Harod Domar đã nêu công thức tính hiệu suất sử dụng vốn, viết tắt là ICOR (Incremental Capital Output Ratio).
Đó là tỷ lệ tăng đầu tư chia cho tỷ lệ tăng của GDP. Những nền kinh tế thành công thường khởi đầu quá trình phát triển kinh tế với các chỉ số ICOR thấp, thường không quá 3%, có nghĩa là muốn tăng 1% GDP thì vốn đầu tư phải tăng 3% (Nguyễn Văn Tiến, 2010). Thứ ba, tiến bộ công nghệ: Tiến bộ công nghệ có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng vì nó góp phần làm tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu suất sử dụng vốn, tiết kiệm lao động và vốn trên sản phẩm nên cùng lượng chi phí nhưng sản phẩm tạo ra nhiều hơn và mở ra các ngành nghề và sản phẩm mới. Nhiều phát minh, sáng kiến đã làm năng suất tăng mạnh như: động cơ hơi nước, máy phát điện, động cơ đốt trong vv… Trang 8 Ngày nay với đà phát triển công nghệ nhất là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới vv.
đã góp phần gia tăng hiệu quả sản xuất (Nguyễn Văn Tiến, 2010). Thứ tư, xuất khẩu: Tác động của xuất khẩu đối với tăng trưởng kinh tế được thuật ngữ kinh tế gọi là “export-led growth”, nghĩa là tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu. Xuất khẩu có thể có tác động đến tăng trưởng kinh tế một cách trực tiếp vì nó là một thành phần của tổng sản phẩm hay một cách gián tiếp thông qua ảnh hưởng của nó đến các nhân tố của tăng trưởng. Xuất khẩu làm tăng nhu cầu trong nền kinh tế và do vậy mở rộng thị trường cho sản xuất nội địa.
Việc hướng về xuất khẩu và cởi mở thương mại cải thiện quá trình tái phân bổ nguồn lực, làm tăng năng lực sử dụng nguồn lực và cạnh tranh của quốc gia. Xuất khẩu làm tăng đầu tư trong nước cũng như thu hút đầu tư nước ngoài. Xuất khẩu giúp giảm bớt thâm hụt cán cân thương mại. Xuất khẩu thúc đẩy thay đổi công nghệ và cải thiện nguồn nhân lực, qua đó làm tăng năng suất và cuối cùng xuất khẩu tạo thêm cơ hội việc làm, tăng thu nhập (Nguyễn Văn Tiến, 2010).
Thứ năm, tài nguyên thiên nhiên: Mặc dù tiến bộ độ khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển và được áp dụng sâu rộng trong sản xuất. Các yếu tố nhập lượng có nguồn gốc từ thiên nhiên ngày càng được sử dụng tiết kiệm và hiệu quả. Tuy nhiên nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên vẫn đóng vai trò quyết định trong sản xuất sản phẩm của ngành và quốc gia (nông nghiệp, công nghiệp khai khoáng…).