CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động cho vay của NHCSXH 1. Tổng quan về Ngân hàng Chính sách xã hội 1. Khái niệm Ngân hàng Chính sách xã hội NHCSXH là tổ chức tín dụng của Nhà nước, thực hiện cho vay với lãi suất và các điều kiện ưu đãi, hoạt động vì mục tiêu xóa đói giảm nghèo, ổn định và phát triển kinh tế, xã hội đặc biệt của mối quốc gia, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận (Bùi Hoàng Anh, 2010).
Ở Việt Nam, để thực hiện các chính sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách nhằm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói, giảm nghèo, ổn định xã hội, hệ thống NHCSXH đã được thành lập. Nhằm mục tiêu hỗ trợ vốn cho người nghèo và các đối tượng yếu thế để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh góp phần thực hiện công cuộc xoá đói, giảm nghèo, từ năm 1993, quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo ở Việt Nam được thiết lập với số vốn ban đầu là 432 tỷ đồng (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 100 tỷ đồng, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam 200 tỷ đồng và NHNo&PTNT Việt Nam 132 tỷ đồng). Quỹ được thiết lập trên cơ sở tự nguyện, cho hộ nghèo vay không cần tài sản thế chấp, ưu đãi về lãi suất và thời hạn cho vay, các bên góp vốn không nhằm mục đích kinh doanh. NHNN&PTNT Việt Nam được giao quản lý, bảo toàn vốn và cho vay đối với hộ nông dân nghèo có khó khăn về vốn để phát triển sản xuất.
Hoạt động của quỹ nói chung hiệu quả nhưng còn mang nặng tính chất bao cấp. Quỹ hoạt động trên phạm vi hẹp, việc huy động vốn không được thực hiện trực tiếp mà thông qua NHNN&PTNT nên gặp nhiều hạn chế, đòi hỏi phải có một tổ chức đủ lớn, đáng tin cậy để mở rộng hoạt động 6 cho vay. Vì vậy, Ngân hàng phục vụ người nghèo được thành lập theo quyết định số 525/QĐ-TTg ngày 31/8/1995 của Thủ tướng chính phủ và quyết định số 230/QĐ-NH5 ngày 01/09/1995 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Việc thành lập ngân hàng phục vụ người nghèo đã tạo kênh tín dụng ưu đãi, góp phần nâng cao hiệu quả xóa đói giảm nghèo.
Tuy nhiên, do nguồn lực tài chính cho các hoạt động tín dụng chính sách còn rất hạn chế, lại bị phân tán bởi nhiều định chế tài chính – tiền tệ; thiếu sự minh bạch giữa tín dụng chính sách với tín dụng thương mại đã tác động tới hiệu quả của hoạt động tín dụng thương mại theo nguyên tắc thị trường và hiệu quả xóa đói giảm nghèo trên diện rộng. Triển khai thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, luật các tổ chức tín dụng năm 1997 và Nghị quyết kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa X về việc hoàn thiện tổ chức hoạt động của Ngân hàng Chính sách, tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại, ngày 04/10/2002 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2002/NĐ-CP về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, tạo cơ sở pháp lý cho mô hình Ngân hàng Chính sách xã hội ra đời. Theo Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg, NHCSXH được thành lập trên cơ sở tổ chức lại ngân hàng vì người nghèo. Với sự kiện này, Việt Nam đã hình thành một định chế tài chính tín dụng đặc thù của Nhà nước với chức năng truyền tải vốn tín dụng ưu đãi đến hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác qua đó góp phần thực hiện mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và các mục tiêu chính trị - kinh tế - xã hội.
NHCSXH là tổ chức tín dụng nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, được Nhà nước đảm bảo khả năng thanh toán, tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng không phần trăm, không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước. Vốn điều lệ ban đầu là 5.000 tỷ đồng và được bổ sung hàng năm theo quy mô hoạt động. NHCSXH được huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; tiếp nhận nguồn vốn từ ngân 7 sách trung ương và địa phương, các nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân để cho vay ưu đãi đối với các đối tượng chính sách. NHCSXH có hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống liên ngân hàng trong nước; thực hiện các dịch vụ ngân hàng về thanh toán ngân quỹ, nghiệp vụ ngoại hối, phù hợp với khả năng và điều kiện thực tế.
NHCSXH được ngân sách nhà nước cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý đối với các khoản cho vay. Thực tế cho thấy, NHCSXH ra đời đã khắc phục những tồn tại về mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của Ngân hàng vì người nghèo, tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại, tập trung quản lý thống nhất các chương trình tín dụng ưu đãi với đối tượng hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Đặc điểm của Ngân hàng Chính sách xã hội - Ngân hàng Chính sách xã hội là một tổ chức tín dụng của Nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, thực hiện cho vay với lãi suất và các điều kiện ưu đãi. - Lãi suất cho vay ưu đãi do Thủ tướng Chính phủ quyết định cho từng thời kỳ, thống nhất một mức trong phạm vi cả nước.
- Có hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng trong nước; thực hiện các dịch vụ ngân hàng về thanh toán và ngân quỹ, nghiệp vụ ngoại hối, phù hợp với khả năng và điều kiện thực tế của đơn vị. - Ngân hàng Chính sách xã hội được Nhà nước xếp hạng doanh nghiệp đặc biệt, có tư cách pháp nhân, có bộ máy quản lý và điều hành thống nhất từ Trung ương đến địa phương trên cả nước bao gồm: Hội sở chính ở Trung ương, Sở giao dịch, 64 Chi nhánh NHCSXH cấp tỉnh, 614 phòng giao dịch NHCSXH cấp huyện, 10.962 điểm giao dịch lưu động tại cấp xã. Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng Chính sách xã hội Cũng giống như các Ngân hàng thương mại, hoạt động chính của Ngân hàng Chính sách xã hội là huy động vốn, cho vay và thực hiện một số dịch vụ thanh toán và ngân quỹ. 8 Thứ nhất, về hoạt động huy động vốn.
Thứ hai, Ngân hàng Chính sách xã hội được thực hiện các dịch vụ ngân hàng về thanh toán và ngân quỹ. Thứ ba, về hoạt động cho vay. Cho vay đối với hộ nghèo của NHCSXH 1. Đối tượng cho vay của ngân hàng chính sách xã hội * Khái niệm hộ nghèo Theo quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 19 tháng 11 năm 2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020 đã quy định rõ các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020.
Theo đó, các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 gồm tiêu chí về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản (gồm 5 dịch vụ là y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin). Khái niệm hộ nghèo được xác định như sau: - Khu vực nông thôn: hộ nghèo là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống. + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. - Khu vực thành thị: hộ nghèo là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống.
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên (Chính phủ, 2003). Cho vay đối với hộ nghèo là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động để cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xoá đói, giảm nghèo, ổn định xã hội. 9 Theo Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ thì đối tượng được tham gia các chương trình tín dụng chính sách bao gồm: * Hộ nghèo; Hộ cận nghèo Theo quyết định số 09/2011/QĐ-TTG ngày 30/1/2011 của Thủ tướng Chính phủ, tiêu chí hộ nghèo, hộ cận nghèo giai đoạn 2011-2015 được quy định như sau: - Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (4.000 đồng/người/năm) trở xuống. - Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (6.000 đồng/người/năm) trở xuống.
- Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng. - Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/người/tháng. * Các hộ thuộc đối tượng chính sách Đối tượng chính sách là những người thuộc diện được thụ hưởng chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ gồm: - Hộ gia đình có công với cách mạng; - Hộ gia đình thương binh, liệt sỹ; - Hộ gia đình là hộ đồng bào dân tộc thiểu số; - Hộ gia đình đang sinh sống trong vùng thường xuyên xảy ra thiên tai; - Hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn (già cả, neo đơn, tàn tật.) - Hộ gia đình đang sinh sống trong vùng đặc biệt khó khăn. Các đối tượng gia đình chính sách nêu trên hầu hết đều có tên trong danh sách do chính quyền cấp xã và thôn bản quản lý theo dõi.
Căn cứ vào từng chương trình cho vay cụ thể, Trưởng thôn và tổ chức Hội có trách nhiệm nhận diện cụ thể từng đối tượng để khi bình xét cho vay đúng đối tượng thụ hưởng và thực hiện theo thứ tự ưu tiên đã quy định. 10 * Các trường hợp khác - Hộ gia đình gặp khó khăn về tài chính: Theo quyết định số 157/2007/QĐ- TTg ngày 27/9/2007, Học sinh sinh viên mà gia đình gặp khó khăn về tài chính do tai nạn, bệnh tật, thiên tại, hỏa hoạn, dịch bệnh có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, thuộc đối tượng được vay vốn của chương trình cho vay Học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn.