CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 1. Khái niệm hoạt động thanh tra, giám sát Ngân hàng Theo “Từ điển tiếng việt” xuất bản năm 1992 thì thanh tra là “kiểm soát, xem xét tại chỗ làm việc của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”. Theo tài liệu của Tổng thanh tra Pháp thì thuật ngữ thanh tra (inspection) bắt nguồn từ tiếng Latinh “In spectare” có nghĩa là nhìn vào bên trong.
Theo đó, thanh tra là một thực tế đứng ngoài để kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các cơ quan, tổ chức; khác với sự kiểm tra, kiểm soát nội bộ của cơ quan, tổ chức đó. Luật Thanh tra năm 2010 nêu: “Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó”. Theo đó, NHTW thực hiện thanh tra chuyên ngành về lĩnh vực ngân hàng, cụ thể như sau: Tại Khoản 11 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 quy định: “Thanh tra ngân hàng là hoạt động thanh tra của Ngân hàng Nhà nước đối với các đối tượng thanh tra ngân hàng trong việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và ngân hàng”. Khoản 12 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 quy định: “Giám sát ngân hàng là hoạt động của Ngân hàng Nhà nước trong việc thu nhập, tổng hợp, phân tích thông tin về đối tượng giám sát ngân hàng thông qua hệ thống thông tin, báo cáo nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời rủi ro gây mất an toàn hoạt động ngân hàng, vi phạm quy định an toàn hoạt động ngân hàng và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.
7 * Về hoạt động thanh tra: Tại Điều 55, Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 quy định rõ hoạt động thanh tra ngân hàng bao gồm: “1. Thanh tra việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và ngân hàng, quy định khác của pháp luật có liên quan, việc thực hiện các quy định trong giấy phép do Ngân hàng Nhà nước cấp. Xem xét, đánh giá mức độ rủi ro, năng lực quản trị rủi ro và tình hình tài chính của đối tượng thanh tra ngân hàng. Kiến nghị cơ quan nhà nước có thâm quyền sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về tiền tệ và ngân hàng.
Kiến nghị, yêu cầu đối tượng thanh tra ngân hàng có biện pháp hạn chế, giảm thiểu và xử lý rủi ro để đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng và phòng ngừa, ngăn chặn hành vi dẫn đến vi phạm pháp luật. Phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền; kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng.” * Về hoạt động giám sát: Tại Điều 58, Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010, quy định rõ hoạt động giám sát ngân hàng, bao gồm các nội dung sau: “1. Thu thập, tổng hợp và xử lý các tài liệu, thông tin, dữ liệu của đối tượng giám sát ngân hàng theo yêu cầu giám sát ngân hàng. Xem xét, theo dõi tình hình chấp hành các quy định về an toàn hoạt động ngân hàng và các quy định khác của pháp luật có liên quan; việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra và khuyến nghị, cảnh báo về giám sát ngân hàng.
Phân tích, đánh giá thường xuyên tình hình tài chính, hoạt động, quản trị, điều hành và mức độ rủi ro của TCTD, xếp hạng các TCTD hằng năm; 4. Phát hiện, cảnh báo rủi ro gây mất an toàn hoạt động ngân hàng và nguy cơ dẫn đến vi phạm pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; 8 5. Kiến nghị, đề xuất biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các rủi ro, vi phạm pháp luật. Mục đích của hoạt động thanh tra, giám sát Tại Điều 50, Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010, quy định mục đích của hoạt động thanh tra, giám sát Ngân hàng như sau: “Thanh tra, giám sát ngân hàng nhằm góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống các tổ chức tín dụng và hệ thống tài chính; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của tổ chức tín dụng; duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các tổ chức tín dụng; bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.
Đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng Theo Điều 52, Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010, quy định đối tượng thanh tra ngân hàng bao gồm: “1. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng. Trong trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thanh tra hoặc phối hợp thanh tra công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng. Tổ chức tín dụng có hoạt động ngoại hối, hoạt động kinh doanh vàng; tổ chức hoạt động thông tin tín dụng; tổ chức bảo hiểm tiền gửi; tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán không phải là ngân hàng; 3.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng thuộc phạm vị quản lý của Ngân hàng Nhà nước.” Theo Điều 56, Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010, quy định đối tượng giám sát Ngân hàng như sau: “Ngân hàng Nhà nước thực hiện giám sát ngân hàng đối với mọi hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Trong trường hợp cần thiết, 9 Ngân hàng Nhà nước yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giám sát hoặc phối hợp giám sát công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng.4 Khái niệm, đặc điểm về Quỹ tín dụng nhân dân * Khái niệm về Quỹ tín dụng nhân dân Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống. * Đặc điểm của Quỹ tín dụng nhân dân Thực hiện Quyết định số 390/QĐ-TTg ngày 27/7/1993 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai đề án thí điểm thành lập QTDND. Trải qua hơn 28 năm hình thành và phát triển, đến nay trên cả nước đã có trên 1200 QTDND.
Các QTDND đã huy động được một khối lượng vốn nhàn rỗi đáng kể trong các tầng lớp dân cư, cho các thành viên vay phát triển sản xuất. Từ đó góp phần vào việc phát triển kinh tế địa phương, khôi phục được một số làng nghề truyền thống, giải quyết được nhiều công ăn việc làm cho hàng ngàn người lao động, cải thiện đời sống, vật chất tinh thần của thành viên, hạn chế và đẩy lùi nạn cho vay lãi ở nông thôn; góp phần thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về xoá đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá. CÁC PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT NGÂN HÀNG 1. Giám sát từ xa a.
Khái niệm Giám sát từ xa (còn gọi là thanh tra trên các báo cáo) là việc Thanh tra, giám sát ngân hàng tổ chức phân tích, đánh giá tình hình của các TCTD dựa trên cơ sở các bảng cân đối kế toán, các chỉ tiêu thống kê định kỳ do các TCTD gửi đến thanh tra, giám sát Ngân hàng theo quy định, dựa trên cơ sở đó cảnh báo cho các TCTD những vấn đề cần thiết hoặc kiến nghị biện pháp khắc phục kịp thời [4]. Mục tiêu giám sát từ xa hoạt động của hệ thống các TCTD - Giám sát việc các TCTD có đảm bảo an toàn trong hoạt động không, từ đó giúp các ngân hàng giữ uy tín với khách hàng. - Giám sát việc ngân hàng có thực hiện nghiêm túc luật pháp và các quy chế hoạt động của ngân hàng không? Trong đó quan trọng nhất là các quy chế phục vụ cho công tác quản lý vĩ mô và các công cụ điều hành chính sách tiền tệ của NHTW. - Giám sát việc các ngân hàng kinh doanh có hiệu quả hay không? Bởi vì, đã kinh doanh là phải có lãi, nếu bị thua lỗ dẫn đến việc cổ đông không những không được hưởng quyền lợi mà còn mất vốn, ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh.
Nếu lỗ nặng hoặc thua lỗ kéo dài sẽ dẫn đến sụp đổ. Phương thức GSTX được ra đời từ hệ thống Ngân hàng Mỹ vào những năm cuối thập kỷ 70, thời kỳ có nhiều ngân hàng lớn ở Mỹ rơi vào khủng hoảng mặc dù ở Mỹ có hệ thống Thanh tra, giám sát Ngân hàng và cơ quan bảo hiểm tiền gửi rất mạnh. Thời gian sau tình trạng tương tự lại diễn ra ở Tây ban Nha. Qua nghiên cứu, phân tích, các nhà quản lý ngân hàng phát hiện ra những hiện tượng và khủng hoảng nói trên phần lớn đều phát sinh trong thời gian “khoảng trống” giữa hai kỳ thanh tra tại chỗ.
Tình trạng này cũng diễn ra khá phổ biến ở một số nước trên thế giới. Để khắc phục hiện tượng này, các nhà quản lý đưa ra một giải pháp nhằm giám sát thường xuyên hoạt động của các TCTD, đó là phương pháp giám sát từ xa, được áp dụng hầu như phổ biến đối với hoạt động của NHTW các nước và trở thành một biện pháp nghiệp vụ thiết yếu trong giám sát, thanh tra hoạt động của các TCTD. Nội dung giám sát từ xa đối với hệ thống các TCTD theo CAMELS Giám sát từ xa theo CAMELS cung cấp một cái nhìn toàn diện về tất cả các khía cạnh tài chính quan trọng đối với khả năng thanh toán và biểu thị giá trị rủi ro của bất cứ ngân hàng nào.