Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU NGÂN SÁCH QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1. Thu ngân sách và quản lý thu ngân sách nhà nước 1. Thu ngân sách và các nguồn thu ngân sách nhà nước Theo Luật NSNN đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 16/12/2002 có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004, cho rằng: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. [19] Năm ngân sách (còn được gọi là niên độ ngân sách hay năm tài chính hoặc tài khóa), mà trong đó, dự toán thu, chi tài chính của Nhà nước đã được phê chuẩn của Quốc hội có hiệu lực thi hành.
Hiện nay, ở tất cả các nước, năm ngân sách đều có thời hạn bằng một năm dương lịch, nhưng thời điểm bắt đầu và kết thúc năm ngân sách ở mỗi nước một khác. Đa số các nước, năm ngân sách trùng với năm dương lịch tức là bắt đầu từ 01/01 kết thúc vào 31/12, như: Pháp, Bỉ, Hà Lan, Trung Quốc, Lào, Triều Tiên, Malaisia, Philippin,… Việc quy định năm ngân sách hoàn toàn là ý định chủ quan của Nhà nước. Tuy nhiên, ý định này cũng bắt nguồn từ những yếu tố tác động khác nhau, trong đó có 2 yêu cầu cơ bản là: - Đặc điểm hoạt động của nền kinh tế có liên quan tới nguồn thu của NSNN. - Đặc điểm hoạt động của cơ quan lập pháp (các kỳ họp của Quốc hội hoặc Nghị viện để phê chuẩn NSNN).
6 Ở nước ta, năm ngân sách bắt đầu từ 01/01 và kết thúc vào 31/12 hàng năm. Điều này phù hợp với các kỳ họp của Quốc hội. Thu ngân sách Nhà nước là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các chủ thể trong xã hội, phát sinh trong quá trình nhà nước huy động, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nước nhằm đảm bảo cho việc thực hiện các chức năng của nhà nước về mọi mặt. Thu NSNN là quá trình Nhà nước dùng các quyền lực có được của mình để phân phối một bộ phận của cải xã hội dưới hình thức tiền tệ về tay mình, hình thành lên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước [4].
Hay có thể nói thu NSNN nó bao gồm các khoản thu từ Thuế, phí, lệ phí, các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, các khoản thu đóng góp của các tổ chức, cá nhân, các khoản viện trợ các khoản khác theo quy định của pháp luật và các khoản do Nhà nước vay để bù đắp bội chi ngân sách đều được dựa vào thu ngân sách. Xét về nội dung ta thấy rằng thu NSNN một mặt chứa đựng các quan hệ phân phối các hình thức giá trị nảy sinh trong quá trình Nhà nước sử dụng quyền lực chính trị, tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước. Mặt khác thu ngân sách Nhà nước lại gắn chặt với thực trạng kinh tế đó là tổng sản phẩm quốc nội - GDP. Thu NSNN là chia nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước và các chủ thể trong xã hội dựa trên quyền lực của Nhà nước.
Nhằm giải quyết hài hòa về lợi ích kinh tế. Sự phân chia đó là yếu tố khách quan nó xuất phát từ yêu cầu thực hiện các chức năng kinh tế xã hội của Nhà nước. Sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI nền kinh tế nước ta bắt đầu chuyển từ cơ chế hành chính quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước thì công cuộc đổi mới lúc này ngày càng được diễn ra toàn diện và sâu sắc nhất là những năm gần đây. Vai trò của NSNN trong thời kỳ này cũng có những chuyển biến tích cực rõ rệt và đóng vai trò quan trọng của NSNN 7 trong nền kinh tế thị trường, nó có những đặc điểm sau: + Nhà nước từ bỏ can thiệp trực tiếp và kiểm soát vào các hoạt động kinh tế, xã hội; + Nhà nước giảm bớt vai trò làm kinh tế để thực hiện vai trò người quản lý trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc không can thiệp sâu vào cơ chế thị trường, có các chính sách đảm bảo cạnh tranh công bằng và giải quyết những vấn đề còn tồn tại trong nền kinh tế mà cơ chế thị trường không giải quyết nổi.
+ Trong cơ chế mới “cơ chế thị trường” Nhà nước phải dùng các công cụ chính sách để điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế đây là đặc trưng cơ bản nhất của nền kinh tế thị trường. Vì vậy muốn đạt được những mục đích về thị trường kinh tế và xã hội thì cũng cần phải có sự can thiệp của Nhà nước. Nhà nước phải biết vận dụng các công cụ tài chính, tiền tệ để tác động đến mọi mặt hoạt động của nền kinh tế xã hội. Trong các công cụ đó thu NSNN được coi là công cụ quan trọng, chiếm một vị trí không nhỏ góp phần làm ổn định nền tài chính, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Vì vậy, thu NSNN có vai trò rất quan trọng đó là: Huy động các nguồn tài chính thông qua thu NSNN đảm bảo việc chi tiêu của Nhà nước, như phục vụ cho bộ máy quản lý của Nhà nước và đảm bảo cho việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội do Nhà nước đề ra. Xã hội muốn phát triển đòi hỏi chi ngân sách mở cả về chiều rộng và chiều sâu do vậy thu NSNN có hiệu quả sẽ góp phần cân đối thu chi đảm bảo cho xã hội phát triển. Đây là vai trò không thể thiếu được của thu NSNN ở bất cứ một quốc gia nào. Trong cơ chế thị trường thu NSNN không chỉ nhằm mục tiêu tạo nguồn tài chính cho Nhà nước như trong cơ chế cũ mà nó có nhiệm vụ quan trọng trong việc điều chỉnh các hoạt động kinh tế - xã hội.
Thu NSNN góp phần làm lành mạnh nền kinh tế - xã hội, thể hiện trên các mặt kinh tế thị trường xã hội. Ngoài ra thu NSNN còn góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế xã hội. Trong đó 8 thuế là công cụ quan trọng nhất, đồng thời Nhà nước sử dụng các khoản thu NSNN để điều hòa lưu thông tiền tệ, bình ổn giá cả giảm lạm phát. Thực hiện phân phối thu nhập đảm bảo công bằng xã hội, Nhà nước hoạt động thu NSNN dưới hình thức thuế gián thu, thuế trực thu để điều tiết thu nhập điều tiết tiêu dùng đảm bảo thu nhập chính đáng của người lao động đồng thời thực hiện công bằng xã hội.
Mặt khác thu NSNN nhanh, đầy đủ, kịp thời vào NSNN cũng là nhằm để thực hiện nhu cầu chi tiêu của xã hội với hiệu quả cao. Tóm lại thu có vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Để quản lý các nguồn thu được tốt và hiệu quả cao thì cần thiết phải phân loại các khoản thu NSNN. Nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước là thuế.
Theo quy định của luật thuế có các loại thuế sau: Thuế lợi tức, thuế tài nguyên, thuế Nhà đất, thuế môn bài, thuế sử đất, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu. Để thuế là nguồn thu chủ yếu chiếm tỷ lệ khoảng 85% tổng thu ngân sách Nhà nước thì Nhà nước, chính phủ ta phải có một chính sách về thuế một cách toàn diện. Về tỷ trọng, các khoản thu ngoài thuế hiện nay chiếm tỷ lệ khiêm tốn trong thu ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, đây là nguồn thu quan trọng, nếu biết phát huy, quản lý tốt và có các biện pháp để nuôi dưỡng, khai thác triệt các nguồn thu thì nguồn thu đó là rất lớn chiếm một tỷ lệ không nhỏ cho ngân sách Nhà nước.
Quản lý thu ngân sách nhà nước Hệ thống thu ngân sách các cấp bao gồm sự phối hợp của cơ quan tài chính, kho bạc nhà nước, ngân hàng, cơ quan thuế, đơn vị nộp ngân sách. Mối quan hệ và quy trình được thể hiện rõ ở sơ đồ 1. (1) Cơ quan Tài chính thông báo kế hoạch thu NSNN gửi cho cơ quan Thuế và cơ quan Kho bạc Nhà nước. (2) Cơ quan Thuế gửi Kho bạc Nhà nước bộ sổ thuế và kế hoạch thu theo tháng.
(4) Đơn vị nộp tiền cho KBNN bằng tiền mặt, séc hoặc ủy nhiệm chi qua hệ thống Ngân hàng để trích tài khoản của mình nộp NS. (5) Ngân hàng trích tài khoản của đơn vị chuyển vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước và báo lại cho Kho bạc Nhà nước và đơn vị được biết. (6) Kho bạc Nhà nước hạch toán thu NSNN, đồng thời thông báo cơ quan Tài chính và cơ quan Thuế Hình 1.1: Quy trình thu NSNN (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp trên cơ sở các kết quả nghiên cứu) Qua mô hình trên ta thấy quy trình thu NSNN, Kho bạc Nhà nước là người đứng ra thực hiện NSNN, Kho bạc Nhà nước thu NSNN theo lệnh thu chứng từ của cơ quan Thuế trên cơ sở kế hoạch thu NSNN. Như vậy Kho bạc Nhà nước là người thực hiện khâu cuối cùng trong quy trình thu NSNN.
So với quy trình thu NSNN thời gian trước đây, ta có thể nhận thấy quy trình thu NSNN đã được hiện đại hóa hơn. Hiện đại hóa quy trình thu nộp 10 NSNN đã được thực hiện từ năm 2008. Việc nộp NSNN có thể thực hiện qua ngân hàng là một bước cải cách thủ tục hành chính, minh bạch hóa số thu và góp phần chống tham nhũng. Chương trình thu NSNN qua ngân hàng đã cho thấy những thế mạnh vượt trội, giúp người nộp thực hiện nghĩa vụ nhanh chóng, thuận tiện.
Quản lý thu ngân sách qua Kho bạc Nhà nước 1. Kho bạc Nhà nước và vai trò của Kho bạc Nhà nước trong quản lý thu ngân sách Cùng với sự ra đời của nước Việt nam dân chủ cộng hoà (năm 1945), Nha ngân khố trực thuộc Bộ Tài chính đã được thành lập theo sắc lệnh số 45/TTg của Thủ tướng Chính phủ, với chức năng nhiệm vụ chủ yếu là in tiền, phát hành tiền của Chính phủ, quản lý quỹ NSNN, quản lý một số tài sản quý của Nhà nước bằng hiện vật như vàng, bạc, kim khí quý, đá quý. Nhiệm vụ chủ yếu của Nha Ngân khố là: Quản lý, giám sát các khoản thu về thuế, các khoản cấp phát theo dự toán. Tổ chức phát hành giấy bạc Việt Nam, thực hiện các nguyên tắc cơ bản về thể lệ thu, chi, quyết toán.