Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) giữ vai trò then chốt trong việc thúc đẩy tài chính toàn diện, cung ứng nguồn vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và đẩy lùi nạn tín dụng đen tại khu vực nông thôn. Tính đến hết năm 2023, trên địa bàn tỉnh Nam Định có 42 QTDND đang hoạt động với tổng tài sản đạt 5.023 tỷ đồng và dư nợ cho vay đạt mức tăng trưởng 11,96% so với năm 2022. Tuy nhiên, giai đoạn 2021–2023 chứng kiến nhiều biến động kinh tế sau đại dịch Covid-19, dẫn đến sức hấp thụ vốn của nền kinh tế suy giảm và rủi ro tiềm ẩn đối với an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng vi mô gia tăng.

Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động thanh tra, giám sát do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Nam Định thực hiện. Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là hệ thống hóa các căn cứ lý luận, phân tích toàn diện thực trạng công tác thanh tra tại chỗ và giám sát từ xa đối với 42 QTDND trong giai đoạn 3 năm 2021, 2022, 2023; từ đó xác định các điểm nghẽn về tính đồng bộ trong lập kế hoạch, độ trễ thông tin báo cáo và chất lượng kiến nghị sau thanh tra.

Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc lượng hóa dữ liệu thực chứng với 98 phiếu khảo sát hợp lệ từ cán bộ quản lý, xác lập cơ sở khoa học để đề xuất hệ thống giải pháp nâng tỷ lệ giám sát đúng hạn từ mức 86,76% lên trên 95%, giảm tỷ lệ chậm trễ thông tin và bảo đảm an toàn hệ thống đến năm 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết giám sát tài chính hiện đại và các chuẩn mực an toàn ngân hàng quốc tế:

  • Lý thuyết giám sát và kiểm soát rủi ro tài chính của Frederic S. Mishkin (2019): Nhấn mạnh thanh tra và giám sát là công cụ điều phối thiết yếu nhằm giảm thiểu tính bất đối xứng thông tin, ngăn chặn rủi ro đạo đức và bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong các tổ chức nhận tiền gửi.
  • Mô hình can thiệp và cảnh báo sớm của Ben S. Bernanke (2013): Khẳng định vai trò của cơ quan thanh tra trong việc phát hiện sớm các dấu hiệu suy giảm thanh khoản để can thiệp kịp thời, ngăn chặn nguy cơ đổ vỡ có tính chất dây chuyền trong hệ thống tài chính vi mô.
  • Nguyên tắc cốt lõi về giám sát ngân hàng hiệu quả của Ủy ban Basel (BCBS): Cung cấp các tiêu chuẩn về tính độc lập, quy trình thanh tra dựa trên mức độ rủi ro và cơ chế chia sẻ thông tin giám sát giữa các cơ quan hữu quan.
  • Các khái niệm cốt lõi: Quỹ tín dụng nhân dân (theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024); Thanh tra tại chỗ (TTTC - kiểm tra trực tiếp hồ sơ, chứng từ tại trụ sở đơn vị); Giám sát từ xa (GSTX - phân tích gián tiếp thông tin báo cáo định kỳ); và Tổ chức tín dụng (TCTD).
  • Khung pháp lý điều chỉnh: Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, Nghị định số 26/2014/NĐ-CP, Nghị định số 43/2019/NĐ-CP, Thông tư số 08/2017/TT-NHNN và Thông tư số 04/2018/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục thanh tra, giám sát ngân hàng an toàn vi mô.

Phương pháp nghiên cứu

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các báo cáo tổng kết công tác thanh tra, số liệu giám sát định kỳ giai đoạn 2021–2023 của NHNN Chi nhánh tỉnh Nam Định, số liệu thống kê kinh tế - xã hội từ Cục Thống kê tỉnh Nam Định, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và các công trình khoa học chuyên ngành.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp, cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tác giả sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu toàn thể (census sampling) đối với toàn bộ 42 QTDND và cán bộ nghiệp vụ tại NHNN Chi nhánh tỉnh Nam Định. Khảo sát được thực hiện trực tiếp kết hợp qua Google Form từ tháng 7/2024 đến tháng 8/2024. Tổng số phiếu phát ra là 100 phiếu, thu về 98 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ phản hồi 98%).
  • Phương pháp phân tích dữ liệu:
    • Phương pháp thống kê mô tả và so sánh: Tính toán các đại lượng số tuyệt đối, tỷ lệ phần trăm tương đối, tốc độ tăng trưởng liên hoàn qua 3 năm (2021–2023) để đánh giá quy mô, khối lượng thanh tra và tốc độ biến động của các sai phạm.
    • Xử lý thang đo Likert 5 bậc: Sử dụng phần mềm Excel để tính điểm trung bình (Mean) của các tiêu chí đánh giá định tính theo 3 mức quy ước: Yếu (0 < Điểm < 2,5), Trung bình (2,5 ≤ Điểm < 3,5), Tốt (3,5 ≤ Điểm ≤ 5,0).
    • Lý do lựa chọn phương pháp: Việc kết hợp dữ liệu thống kê quản lý với khảo sát định tính giúp kiểm chứng mức độ đồng thuận giữa cơ quan quản lý và đối tượng chịu sự thanh tra, đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy của đề án.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực trạng hoạt động thanh tra, giám sát đối với các QTDND tại tỉnh Nam Định giai đoạn 2021–2023 mang lại 4 phát hiện trọng tâm:

  • Quy mô hoạt động của các QTDND tăng trưởng ổn định nhưng nguồn lực thanh tra chịu áp lực lớn: Tổng tài sản của 42 QTDND tăng từ 4.571 tỷ đồng năm 2021 lên 4.823 tỷ đồng năm 2022 và đạt 5.023 tỷ đồng năm 2023 (tăng 4,15% năm 2023). Dư nợ cho vay tăng trưởng mạnh mẽ, đạt 11,96% năm 2023; lợi nhuận trước thuế tăng từ 95,2 tỷ đồng (2021) lên 120,3 tỷ đồng (2023), tương ứng mức tăng 13,85%. Hoạt động thanh tra tại chỗ của NHNN tỉnh tập trung phần lớn vào QTDND: năm 2021 thực hiện 14/20 cuộc (chiếm 70,00%), năm 2022 thực hiện 12/19 cuộc (chiếm 63,16%) và năm 2023 thực hiện 13/17 cuộc (chiếm 76,47% tổng số cuộc thanh tra trên địa bàn).
  • Số kỳ giám sát từ xa sụt giảm đáng kể và tỷ lệ chậm trễ có xu hướng tăng: Tổng số kỳ thực hiện GSTX giảm 29,17% từ 192 kỳ (năm 2021) xuống 184 kỳ (năm 2022) và giảm sâu còn 136 kỳ năm 2023 (giảm 26,10% so với 2022). Mặc dù tỷ lệ kỳ giám sát kịp thời năm 2022 đạt đỉnh 90,80%, con số này đã giảm xuống 86,76% trong năm 2023, đồng thời tỷ lệ kỳ giám sát không kịp thời tăng từ 9,24% lên 13,24% (tương đương 18 kỳ bị chậm trễ).
  • Mức độ khai thác cảnh báo sớm cho thanh tra tại chỗ từng bước được nâng cấp: Số văn bản thông tin cảnh báo sử dụng cho thanh tra tại chỗ tăng từ 6 văn bản (tỷ lệ 3,13%) năm 2021 lên 8 văn bản (tỷ lệ 5,88%) năm 2023. Số văn bản khuyến nghị cảnh báo qua giám sát tăng từ 10 văn bản năm 2021 lên 12 văn bản năm 2023, nâng tỷ lệ khuyến nghị cảnh báo từ 5,21% lên 8,82% (tăng trưởng 62,35% so với năm 2022).
  • Đánh giá định tính từ đối tượng khảo sát bộc lộ sự thiếu đồng đều giữa các tiêu chí: Khảo sát 98 cán bộ cho thấy tiêu chí "Tính hữu ích của các cảnh báo qua công tác giám sát" đạt mức tốt với điểm trung bình quy đổi là 3,80/5,0 (có 27,8% đồng ý và 3,7% hoàn toàn đồng ý). Ngược lại, tiêu chí "Tính hợp lý của yêu cầu báo cáo" chỉ đạt 3,12/5,0 điểm (mức trung bình, có 12,4% đánh giá không đồng ý và 50,4% trung lập); tiêu chí "Thời gian thực hiện giám sát phù hợp" đạt 3,25/5,0 điểm (mức trung bình với 56,8% ý kiến trung lập).

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm số kỳ giám sát từ xa và gia tăng độ trễ thời gian trong năm 2023 xuất phát từ áp lực khối lượng báo cáo định kỳ theo Thông tư số 35/2015/TT-NHNN và Thông tư số 11/2018/TT-NHNN quá lớn, trong khi đội ngũ chuyên trách GSTX tại chi nhánh chỉ có 08 cán bộ theo dõi dữ liệu và 03 cán bộ phụ trách địa bàn. Việc xử lý thủ công các bảng cân đối 10 ngày, báo cáo tháng và báo cáo quý khiến thông tin giám sát chưa phát huy tối đa vai trò định hướng đón đầu cho các đoàn thanh tra tại chỗ.

Khi so sánh với bài học thực tiễn tại các địa phương lân cận, điển hình là NHNN Chi nhánh tỉnh Hà Nam (quản lý 30 QTDND với cơ chế phân công cán bộ chuyên trách theo dõi sát sao từng quỹ) và cơ chế thanh tra chéo (như việc NHNN Nam Định thanh tra chéo QTDND Đông Á tại Thái Bình năm 2023, thanh tra chéo tại Thanh Hóa năm 2021), có thể thấy việc tăng cường giám sát chéo và số hóa dữ liệu giúp khắc phục triệt để tính cục bộ, nâng cao tính khách quan trong việc phát hiện nợ xấu tiềm ẩn và sai phạm tín dụng.

Dữ liệu nghiên cứu được trình bày một cách trực quan qua Bảng tổng hợp công tác giám sát từ xa (phân tích biến động số kỳ và tỷ lệ văn bản cảnh báo 2021–2023) cùng hệ thống biểu đồ cột so sánh cơ cấu số cuộc thanh tra thực tế. Việc trực quan hóa này làm nổi bật sự chênh lệch giữa tỷ lệ thanh tra thực tế đối với QTDND (luôn duy trì ở mức cao từ 63,16% đến 76,47%) so với năng lực đáp ứng của hệ thống cảnh báo từ xa.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng giai đoạn 2021–2023, đề án đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính hành động nhằm hoàn thiện hoạt động thanh tra, giám sát đến năm 2030:

  • Tăng cường đào tạo chuyên môn và nâng cao năng lực cho đội ngũ thanh tra viên: Ban Lãnh đạo NHNN Chi nhánh tỉnh Nam Định chủ trì tổ chức 02 khóa bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu mỗi năm về kỹ năng phân tích báo cáo tài chính vi mô, kỹ năng kiểm toán công nghệ thông tin và nhận diện gian lận tín dụng. Mục tiêu nâng điểm đánh giá năng lực, thái độ của thanh tra viên từ mức 3,50 hiện nay lên trên 4,30 điểm Likert trong giai đoạn 2024–2026.
  • Hiện đại hóa hệ thống phần mềm giám sát từ xa và chuẩn hóa quy trình báo cáo: Phòng Thanh tra, giám sát phối hợp cùng bộ phận Công nghệ thông tin triển khai tự động hóa việc thu thập số liệu theo Thông tư số 11/2018/TT-NHNN, cắt giảm 20% các mẫu biểu trùng lặp. Đặt mục tiêu giảm tỷ lệ kỳ giám sát không kịp thời từ 13,24% xuống dưới 3,00% và nâng tỷ lệ kỳ giám sát kịp thời lên trên 97,00% trước năm 2026.
  • Thiết lập cơ chế phối hợp và chia sẻ dữ liệu liên ngành trên địa bàn tỉnh: Chi nhánh NHNN chủ động ký kết quy chế phối hợp định kỳ với Sở Tư pháp, Sở Tài nguyên và Môi trường cùng Công an tỉnh Nam Định để xác minh thông tin sở hữu đất đai, đăng ký giao dịch bảo đảm và hồ sơ khách hàng vay vốn. Mục tiêu đạt 100% các vụ việc có dấu hiệu sai phạm, rủi ro cao được xác minh thông tin liên ngành trong vòng 15 ngày làm việc giai đoạn 2025–2027.
  • Đổi mới quy trình xử lý kết quả thanh tra và áp dụng cơ chế khuyến khích tuân thủ: Chuyển đổi phương thức thanh tra tại chỗ từ tuân thủ truyền thống sang thanh tra trên cơ sở rủi ro (Risk-based Supervision); hoàn thiện và ban hành kết luận thanh tra trong thời hạn tối đa 30 ngày kể từ khi kết thúc kiểm tra thực tế. Xây dựng bộ tiêu chí chấm điểm thi đua, định kỳ khen thưởng hàng năm đối với top 10 QTDND có chỉ số an toàn vốn cao và không phát sinh vi phạm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn cung cấp hàm lượng thông tin khoa học và giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cán bộ lãnh đạo và thanh tra viên tại các Chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố: Nắm bắt quy trình xây dựng kế hoạch thanh tra dựa trên đánh giá rủi ro, phương pháp kết hợp giữa giám sát từ xa với thanh tra tại chỗ và bài học tổ chức các cuộc thanh tra chéo liên tỉnh nhằm hạn chế tiêu cực tại cơ sở.
  • Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Ban điều hành 42 QTDND: Hiểu rõ các chỉ tiêu giám sát vi mô, các dấu hiệu rủi ro tiềm ẩn (như sụt giảm nguồn vốn huy động, nợ xấu biến động, vi phạm giới hạn cấp tín dụng một khách hàng) để chủ động củng cố hệ thống kiểm soát nội bộ và tự chấn chỉnh hoạt động.
  • Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng (NHNN Việt Nam) và các nhà hoạch định chính sách: Tham khảo bức tranh thực tế về những khó khăn, bất cập trong thực hiện Thông tư số 08/2017/TT-NHNN và Thông tư số 11/2018/TT-NHNN, từ đó hoàn thiện khung pháp lý và tinh gọn chế độ thông tin báo cáo thống kê.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Luật Kinh tế: Sử dụng đề tài làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về mô hình nghiên cứu kết hợp dữ liệu thống kê hành chính với khảo sát định lượng thang đo Likert trong lĩnh vực quản trị rủi ro hệ thống tài chính nhân dân.

Câu hỏi thường gặp

  • Quy mô và tình hình hoạt động của hệ thống QTDND tỉnh Nam Định giai đoạn 2021–2023 như thế nào? Hệ thống gồm 42 QTDND trải rộng trên địa bàn tỉnh. Đến năm 2023, tổng tài sản đạt 5.023 tỷ đồng (tăng 4,15% so với năm 2022); dư nợ cho vay đạt mức tăng trưởng 11,96% và lợi nhuận trước thuế toàn hệ thống đạt 120,3 tỷ đồng, thể hiện sự tăng trưởng quy mô tài chính liên tục qua 3 năm.
  • Tỷ trọng các cuộc thanh tra QTDND so với tổng số cuộc thanh tra của NHNN Nam Định là bao nhiêu? Công tác thanh tra QTDND luôn chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng số cuộc thanh tra chuyên ngành của chi nhánh: đạt 70,00% năm 2021 (14/20 cuộc), 63,16% năm 2022 (12/19 cuộc) và tăng lên 76,47% trong năm 2023 (13/17 cuộc).
  • Vì sao số kỳ thực hiện giám sát từ xa của NHNN Nam Định giảm mạnh trong năm 2023? Số kỳ GSTX giảm 26,10% từ 184 kỳ (2022) xuống còn 136 kỳ (2023) do quá trình tinh giản các đợt rà soát báo cáo trung gian, đồng thời chi nhánh tập trung nguồn lực chuyên sâu vào việc theo dõi triển khai phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu theo Chỉ thị số 06/CT-TTg.
  • Đánh giá của các QTDND về tính hợp lý của yêu cầu báo cáo phục vụ giám sát hiện nay ra sao? Theo kết quả khảo sát 98 cán bộ bằng thang đo Likert, tiêu chí tính hợp lý của yêu cầu báo cáo chỉ đạt điểm trung bình 3,12/5,0 (mức trung bình), với 12,4% đánh giá không đồng ý và 50,4% đánh giá trung lập, phản ánh nhu cầu cần tối ưu hóa mẫu biểu để giảm tải thủ tục hành chính.
  • Ý nghĩa của mô hình thanh tra chéo giữa các chi nhánh NHNN là gì? Mô hình thanh tra chéo (như thanh tra QTDND giữa Nam Định, Hà Nam, Thái Bình và Thanh Hóa) giúp tăng cường tính khách quan, khắc phục triệt để tính nể nang, cục bộ địa phương và giúp phát hiện chính xác các sai phạm tiềm ẩn trong hoạt động tín dụng vi mô.

Kết luận

  • Quy mô tài chính của 42 QTDND trên địa bàn tỉnh Nam Định duy trì đà tăng trưởng bền vững với tổng tài sản đạt 5.023 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế đạt 120,3 tỷ đồng năm 2023.
  • Hoạt động thanh tra tại chỗ được thực hiện quyết liệt, chiếm tỷ trọng cao trong kế hoạch kiểm tra toàn ngành (đạt 76,47% năm 2023), giúp kiểm soát nợ xấu và bảo đảm an toàn hệ thống.
  • Nghiên cứu đã chỉ ra các hạn chế then chốt: số kỳ giám sát từ xa sụt giảm 26,10%, tỷ lệ kỳ giám sát chậm trễ tăng lên 13,24% và tính hợp lý của yêu cầu báo cáo chỉ đạt điểm trung bình 3,12/5,0.
  • Hệ thống 4 giải pháp trọng tâm đề xuất tập trung vào số hóa dữ liệu giám sát, nâng cao năng lực cán bộ thanh tra (mục tiêu đạt trên 4,30 điểm Likert), chia sẻ dữ liệu liên ngành và đổi mới phương thức thanh tra trên cơ sở rủi ro đến năm 2030.
  • Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị lý luận và thực tiễn cao, hỗ trợ đắc lực cho các nhà quản lý và nhà nghiên cứu trong việc củng cố an toàn hệ thống tài chính nhân dân; độc giả quan tâm có thể ứng dụng khung phân tích này vào công tác quản trị và thanh tra tại địa phương.