CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa Ngày 26/11/2014 Chủ tịch Quốc hội đã thông qua Luật số 68/2014/QH13 đưa ra khái niệm doanh nghiệp như sau: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Ngày 26/8/2021 Chính phủ ban hành Nghị định 80/2021/NĐ-CP, theo đó cách xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa được quy định như sau: - Lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng: + Doanh nghiệp nhỏ khi sử dụng lao động bình quân không quá 100 người có tham gia bảo hiểm xã hội và tổng doanh thu của năm tài chính không quá 50 tỷ đồng hoặc nguồn vốn của năm không quá 20 tỷ đồng.
+ Doanh nghiệp vừa khi sử dụng lao động bình quân không quá 200 người có tham gia bảo hiểm xã hội và tổng doanh thu của năm tài chính không quá 200 tỷ đồng hoặc nguồn vốn của năm không quá 100 tỷ đồng. - Lĩnh vực thương mại và dịch vụ: + Doanh nghiệp nhỏ khi sử dụng lao động bình quân không quá 50 người có tham gia bảo hiểm xã hội và tổng doanh thu của năm tài chính không quá 100 tỷ đồng hoặc nguồn vốn của năm không quá 50 tỷ đồng. + Doanh nghiệp vừa khi sử dụng lao động bình quân không quá 100 người có tham gia bảo hiểm xã hội và tổng doanh thu của năm tài chính không quá 300 tỷ đồng hoặc nguồn vốn của năm không quá 100 tỷ đồng. Theo Nghị định trên, DNNVV phải đáp ứng các tiêu chí sau: - Về mặt pháp lý: phải là cơ sở kinh doanh đã kinh doanh theo quy định của pháp luật.
- Về quy mô: được phân thành 3 cấp là siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn. 5 - Về vốn đăng ký: phụ thuộc vào quy mô và loại hình doanh nghiệp. - Về số lượng lao động trung bình hàng năm: phụ thuộc vào quy mô và loại hình doanh nghiệp. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Bên cạnh đặc trưng của một tổ chức cơ bản, DNNVV còn mang trong mình những sự khác biệt hình thành từ tính chất và quá trình hoạt động như sau: Một là, về quy mô vốn Các DVNVV thường có quy mô vốn nhỏ nhưng quy mô vốn sẽ thay đổi theo lĩnh vực kinh doanh.
Nhìn chung đối với lĩnh vực sản xuất sẽ có mức vốn đầu tư ban đầu cao hơn lĩnh vực thương mại dịch vụ. Khái niệm trong Nghị định 80 nêu trên có thể thấy tổng nguồn vốn của DVNVV trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp và công nghiệp xây dựng là dưới 100 tỷ đồng, trong lĩnh vực thương mại dịch vụ là dưới 50 tỷ đồng. Doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ có lợi thế hơn so với các doanh nghiệp lớn ở chỗ những doanh nghiệp này có mức vốn đầu tư ban đầu thấp, chu kỳ sản xuất ngắn nên vòng quay vốn nhanh, mang lại lợi nhuận cao dù tiềm ẩn rủi ro Tuy nhiên, mức vốn đầu tư nhỏ cũng đem lại hạn chế cho DNNVV trong khả năng tiến hành đầu tư vào TSCĐ như mặt nhà xưởng, máy móc thiết bị và nguyên vật liệu. Không giống như những doanh nghiệp lớn, DNNVV gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn từ ngân hàng hay thị trường chứng khoán.
Các nguồn vốn DNNVV tiếp cận được thường đến từ nguồn vốn phi chính thức như chiếm dụng vốn từ đối tác và lợi nhuận giữ lại. Nếu các DNNVV muốn tiếp cận được nguồn vốn tín dụng ngân hàng cần phải đáp ứng được các yêu cầu về thủ tục vay vốn, phương án sản xuất kinh doanh hoàn thiện, tài sản đảm bảo phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn của ngân hàng… Hai là, về công nghệ, thiết bị Một trong những khó khăn lớn nhất mà các DNNVV ở các nền kinh tế trên khắp thế giới đang gặp phải. Hiện tại số lượng thiết bị, máy móc hiện đại được đưa vào sử dụng ở các DNNVV chiếm tỷ lệ rất thấp và chưa có trình độ kỹ thuật. Chính vì điều này mà năng suất lao động tại các doanh nghiệp này vẫn ở mức thấp ngoài ra còn tiêu hao nhiều nguyên, vật liệu khiến cho giá thành sản phẩm trở nên đắt đỏ hơn trong khi chất lượng kém hơn so với mặt bằng.
Không chỉ vậy, nó có thể tác động tiêu cực lên môi trường, sức khỏe người lao động. 6 Ba là, về cơ cấu quản lý tổ chức và lĩnh vực hoạt động Về cơ cấu tổ chức quản lý, DNNVV có tổng số lao động ít (dưới 300 người), thường không có vốn của Nhà nước do đó cơ cấu tổ chức gọn nhẹ và dễ dàng thay đổi theo biến động của thị trường. Nhờ việc có ít cấp bậc trong cơ cấu quản lý nên DNNVV dễ đưa ra quyết định và nắm bắt các cơ hội tốt hơn và tiết kiệm chi phí quản lý doanh nghiệp. Về lĩnh vực hoạt động, các DNNVV hoạt động ở đa dạng ngành nghề trong đó đặc biệt tập trung ở các lĩnh vực như thương mại, dịch vụ, nhà cung cấp vì lĩnh vực này có vốn đầu tư ban đầu thấp, quay vòng vốn nhanh,… Bốn là, trình độ của cấp quản lý và người lao động Các DNNVV hiện nay đa số còn hạn chế trong năng lực quản lý doanh nghiệp.
DNNVV linh hoạt với những biến động của thị trường và có thể đưa ra quyết định nhanh chóng là lợi thế nhưng nếu thiếu cẩn thận khi nghiên cứu thị trường có thể dẫn đến các quyết định sai lầm. Hạn chế này đến từ việc ban lãnh đạo DNNVV thường ít được đào tạo qua các trường lớp chính quy, thiếu kiến thức về quản trị doanh nghiệp, kinh tế vi-vĩ mô, luật pháp,.Nguồn tài chính hạn chế và môi trường làm việc là yếu tố khiến DNNVV khó thu hút được những người quản lý giỏi. Năm là, thị trường và mức độ cạnh tranh Vì đặc tính của doanh nghiệp nên thị trường của DNNVV chủ yếu là làm nhà cung cấp nguyên vật liệu, kênh phân phối hay những khâu trong quy trình sản xuất mà các DN lớn bỏ qua hoặc chưa để ý đến. Do đó, mức độ cạnh tranh ở thị trường này là rất gay gắt Từ những đặc điểm trên của DNNVV, đòi hỏi các NHTM khi thiết lập quan hệ cho vay đối với DNNVV, vừa phải tạo điều kiện cho doanh nghiệp vay vốn, đồng thời phải có cơ chế để đảm bảo thu hồi vốn.
Như vậy mới có thể tăng hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của NHTM. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa Tại Việt Nam, DNNVV đang chiếm đến 98.1% trên tổng số doanh nghiệp. Con số này đã phản ánh rằng DNNVV đang giữ vai trò lớn trong việc bứt phá của nền kinh tế. Với sự phong phú về ngành nghề kinh doanh và quy mô, DNNVV cũng đang đóng góp rất lớn trong công cuộc tạo việc làm, thu hút nguồn vốn từ các nhà đầu tư.
Nếu không có những chính sách cũng như kế hoạch hợp lý cho các 7 DNNVV, việc định hướng cũng như phát triển kinh doanh sẽ gặp muôn vàn khúc mắc, từ đó có thể dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng. Để góp phần nâng cao vai trò của DNNVV, khi cho vay đối với các DNNVV, các NHTM phải nâng cao hiệu quả cho vay. Tín dụng Ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Đặc điểm tín dụng ngân hàng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.
Khái niệm về tín dụng của ngân hàng thương mại Theo Luật Các Tổ Chức Tín Dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010, “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Như vậy, cho vay của ngân hàng thương mại bao gồm ba nội dung sau: - Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng. - Sự chuyển nhượng này chỉ mang tính tạm thời. - Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí.
Đặc điểm tín dụng ngân hàng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa a. Đặc điểm của tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng giúp tăng hiệu quả luân chuyển vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Ngân hàng là một định chế tài chính chuyên nghiệp với những quy định chặt chẽ về chỉ tiêu nghiệp vụ, là nhà tài trợ chính cho mọi hoạt động của nền kinh tế. Xuất phát từ nhu cầu vốn ngày càng lớn của nền kinh tế, các ngân hàng cần phải mở rộng quy mô vốn, từ đó thúc đẩy việc tích tụ, tập trung vốn mạnh mẽ của ngân hàng thông qua việc tăng vốn, tái đầu tư từ lợi nhuận giữ lại… b.
Điều kiện cấp tín dụng đối với DNNVV Điều kiện cấp tín dụng là những quy định cụ thể của từng ngân hàng đối với khách hàng có nhu cầu cấp tín dụng. Những điều kiện này được các ngân hàng thay đổi linh hoạt theo từng thời kỳ để đảm bảo phù hợp với định hướng phát triển của từng ngân hàng. Nhưng những điều kiện cơ bản trong quy trình cấp tín dụng của các ngân hàng có điểm chung như sau: - Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm 8 dân sự theo quy định của pháp luật. - Nhu cầu cấp tín dụng để sử dụng vào mục đích hợp pháp, phù hợp với ngành nghề kinh doanh đã đăng ký theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh (nếu có) và các tài liệu khác có liên quan của khách hàng.
- Đối với nhu cầu vay vốn đầu tư dự án/vay vốn đầu tư TSCĐ: Khách hàng phải có vốn thuộc sở hữu của khách hàng tham gia vào dự án/phương án tối thiểu bằng 30% tổng nhu cầu vốn hoặc tổng mức đầu tư sau khi trừ phần vốn lưu động của dự án/phương án. + Có các tài liệu chứng minh khả năng huy động đủ nguồn vốn ngoài số vốn trong hồ sơ vay vốn (bao gồm nguồn vốn thuộc sở hữu của khách hàng và nguồn vốn huy động khác) để thực hiện dự án. + Có nguồn trả nợ khả thi từ doanh thu dự án và các nguồn tài chính hợp pháp khác (nếu có) của khách hàng để đảm bảo trả nợ trong thời hạn đã cam kết.