phần mở đầu, kết luận nội dung của luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận chung về rủi ro tín dụng và hạn chế rủi ro tín dụng ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng rủi ro tín dụng tại Agribank Chi nhánh tỉnh Tiền Giang. Chƣơng 3: Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Agribank Chi nhánh tỉnh Tiền Giang. download by : skknchat@gmail.com 1 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định theo thỏa thuận. Khi ngân hàng cấp tín dụng thì tất yếu sẽ xảy ra RRTD. Có nhiều định nghĩa về RRTD nhƣ: Theo Thomas P.Fitch (2000) thì RRTD là loại rủi ro xảy ra khi ngƣời vay không thanh toán đƣợc nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ.
[15] Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của ngân hàng nhà nƣớc (NHNN) ngày 22/04/2005 về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng định nghĩa “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. [8] RRTD không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác nhƣ: bảo lãnh, cam kết, chấp nhận tài trợ thƣơng mại … Nhƣ vậy, RRTD là rủi ro xảy ra khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng mà khi đến hạn khách hàng không trả đƣợc nợ gốc và lãi. * Đặc điểm của RRTD: RRTD mang tính chất gián tiếp: đặc điểm này xuất phát từ nguyên nhân trong quan hệ tín dụng thì ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định. Do đó, những rủi ro trong kinh doanh download by : skknchat@gmail.com 2 của khách hàng làm khách hàng không trả đƣợc nợ và cũng gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng.
RRTD có tính chất đa dạng và phức tạp: do nguyên nhân gây ra rủi ro rất đa dạng và phức tạp. RRTD mang tính chất tất yếu: RRTD luôn tồn tại và đồng hành với hoạt động tín dụng. Bất cứ một khoản vay nào cũng tồn tại rủi ro, chúng ta chỉ có thể hạn chế đến một mức độ rủi ro nào đó có thể chấp nhận đƣợc. Phân loại rủi ro tín dụng RRTD đƣợc phân thành 2 nhóm chính: rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục.1: Phân loại rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng Rủi ro giao dịch Rủi ro danh mục Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro lựa chọn bảo đảm nghiệp vụ nội tại tập trung - Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. + Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng khi ngân hàng lựa chọn những phƣơng án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. download by : skknchat@gmail.com 3 + Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm nhƣ các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản bảo đảm, chủ thể bảo đảm, cách thức bảo đảm và mức cho vay trên giá trị của tài sản bảo đảm. + Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề.
- Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, đƣợc phân chia thành hai loại rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm có tính chất riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. + Rủi ro tập trung: là trƣờng hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng xảy do do nhiều nguyên nhân nhƣng ta có thể chia làm 2 loại do nguyên nhân từ bên ngoài tác động là nguyên nhân khách quan và từ phía ngân hàng hay của khách hàng là nguyên nhân chủ quan. Nguyên nhân khách quan - Do tác động của môi trƣờng tự nhiên nhƣ thiên tai, dịch bệnh gây ra tổn thất cho khách hàng vay vốn. - Các chính sách của nhà nƣớc thƣờng xuyên thay đổi làm doanh nghiệp thích ứng không kịp thời. - Các rào chắn về thuế quan về hàng nhập khẩu của nƣớc ngoài làm ảnh hƣởng đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu.
download by : skknchat@gmail.com 4 - Sự cạnh tranh gay gắt khi Việt Nam tham gia tự do hóa tài chính và hội nhập quốc tế. Những doanh nghiệp trong nƣớc với quy mô nhỏ, tiềm lực tài chính kém không cạnh tranh đƣợc với các công ty lớn các tập đoàn đa quốc gia sẽ bị phá sản. Bên cạnh đó, các ngân hàng thƣơng mại (NHTM) trong nƣớc cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn do các ngân hàng nƣớc ngoài lôi kéo các khách hàng lớn có uy tín. - Thiếu sự quy hoạch ngành một cách hợp lý dẫn đến sự tập trung đầu tƣ quá mức cho một số ngành dẫn đến thừa cung hàng hóa.
- Sự thanh tra, kiểm tra của ngân hàng nhà nƣớc không hiệu quả dẫn đến các ngân hàng cạnh tranh không lành mạnh, đầu tƣ tín dụng vào các ngành có rủi ro cao dẫn đến nguy cơ mất vốn. - Hệ thống thông tin quản lý chƣa đầy đủ và hiệu quả: Ở Việt Nam chƣa có cơ quan đánh giá xếp hạng tín dụng cho khách hàng một cách độc lập. Trung tâm thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam (CIC) của NHNN chƣa cung cấp thông tin còn đơn điệu, thiếu cập nhật. Nguyên nhân chủ quan - Nguyên nhân từ phía khách hàng + Khách hàng là hộ gia đình, cá nhân * Do thu nhập giảm sút.
* Do sử dụng vốn sai mục đích. * Do thiên tai bất khả kháng. + Khách hàng là doanh nghiệp * Do năng lực quản lý hạn chế. * Do sản xuất kinh doanh yếu kém.
* Do doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích. * Do doanh nghiệp cố tình lừa đảo ngân hàng. - Nguyên nhân từ phía ngân hàng download by : skknchat@gmail.com 5 + Do ngân hàng chạy theo lợi nhuận, gia tăng doanh số, cạnh tranh mở rộng thị phần, chỉ thấy cái lợi trƣớc mắt mà không thấy rủi ro tiềm ẩn lâu dài. Từ đó giảm bớt trình tự thủ tục cho vay, thực hiện cho vay không đúng các chủ trƣơng, chính sách, quy định về cho vay.
+ Ngân hàng thiếu kiểm soát chặt chẽ trƣớc, trong và sau khi cho vay. Việc lơ là kiểm soát này đã làm cho ngân hàng khó tránh khỏi rủi ro khi khách hàng sử dụng vốn sai mục đích hoặc có ý định lừa đảo. + Ngân hàng đánh giá không đúng về các yếu tố đảm bảo (tài sản thế chấp, cầm cố, ngƣời bảo lãnh). Nếu ngân hàng không xem xét kỹ các yếu tố này thì sẽ dẫn đến việc đánh giá tài sản đảm bảo có giá trị không đúng thực tế, không đủ bù đắp nguồn vốn khi thu hồi nợ thậm chí không thể thu hồi đƣợc nợ.
+ Do cán bộ tín dụng, cán bộ lãnh đạo yếu hoặc thiếu chuyên môn, chủ quan về khách hàng cũ, cũng có thể thiếu đạo đức nghề nghiệp dẫn đến thông đồng với khách hàng nhằm thu lợi cá nhân. Hậu quả của rủi ro tín dụng 1. Đối với ngân hàng - Kết quả kinh doanh của ngân hàng phần lớn phụ thuộc rất lớn vào hoạt động của tín dụng, một khi cho vay gặp rủi ro không thu hồi đƣợc vốn thì ngân hàng phải dùng nguồn vốn của mình để chi trả cho ngƣời gửi tiền, nếu rủi ro lớn ngân hàng không còn đủ nguồn vốn để chi trả cho ngƣời gửi tiền thì ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, có thể dẫn đến phá sản. Nhƣ vậy, rủi ro tín dụng có ảnh hƣởng rất lớn đến hoạt động của ngân hàng.
- Nguy cơ rủi ro tín dụng càng cao ngân hàng phải trích lập dự phòng càng lớn ảnh hƣởng đến lợi nhuận đạt đƣợc, ảnh hƣởng đối với hoạt động, uy tín của ngân hàng. - Đối với nhân viên ngân hàng, do gặp phải rủi ro tín dụng nên ngân hàng thiếu tiền trả lƣơng cho nhân viên hoặc các khoản phụ cấp ƣu đãi khiến những ngƣời có năng lực chán nản mà thuyên chuyển công tác hay làm việc cầm chừng mà không phát huy hết khả năng, gây khó khăn cho ngân hàng. download by : skknchat@gmail. Đối với nền kinh tế Bởi vì bản chất và chức năng của ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính chuyên huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho các tổ chức và cá nhân có nhu cầu vay lại.
Do đó, thực chất quyền sở hữu những khoản cho vay là quyền sở hữu của ngƣời đã gửi tiền vào ngân hàng. Khi rủi ro tín dụng xảy ra thì không những ngân hàng chịu thiệt hại mà quyền lợi của những ngƣời gửi tiền cũng bị ảnh hƣởng. Bên cạnh đó, ngày nay hoạt động của ngân hàng mang tính chất xã hội hóa cao nên một khi rủi ro tín dụng xảy ra đối với ngân hàng thì nó sẽ ảnh hƣởng rất lớn đến nền kinh tế - xã hội, nếu có sự thất thoát trong hoạt động tín dụng dù chỉ ở một ngân hàng mà không đƣợc ứng cứu kịp thời thì có thể gây ra phản ứng dây chuyền đe dọa đến tính an toàn và ổn định của cả hệ thống ngân hàng, từ đó sẽ gây ra những bất ổn về kinh tế - xã hội.