phần mở đầu, kết luận, sơ đồ, bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc bố cục thành 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nƣớc đối với Quỹ tín dụng nhân dân Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam - Chi nhánh Hà Nội đối với các Quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn TP Hà Nội Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam - Chi nhánh Hà Nội đối với các Quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn TP Hà Nội 3 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Hiện nay, tại Việt Nam có rất nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu về hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN đối với các TCTD. Dƣới đây, xin đƣợc nêu ra một số bài báo, bài tạp chí, luận văn nghiên cứu về những vấn đề có liên quan đến hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN. Thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro là phƣơng pháp thanh tra, giám sát phổ biến, đƣợc Ngân hàng Trung ƣơng (NHTW) nhiều nƣớc trên thế giới áp dụng. Tuy nhiên, tại Việt Nam, đây là phƣơng pháp hết sức mới mẻ.
Hoàng Đình Thắng (2011) trong bài viết của mình đã trình bày khái niệm thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro và tiến trình chuẩn bị cho việc thực hiện điều 51 Luật NHNN 2010 “….Kết hợp thanh tra, giám sát việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng với thanh tra, giám sát rủi ro trong hoạt động của đối tƣợng thanh tra, giám sát ngân hàng. Thanh tra, giám sát ngân hàng đƣợc thực hiện theo nguyên tắc thanh tra, giám sát toàn bộ hoạt động của tổ chức tín dụng…”. Phƣơng pháp thanh tra, giám sát tuân thủ mà NHNN hiện nay đang áp dụng đối với các TCTD không còn phù hợp. Trong môi trƣờng cạnh tranh khốc liệt của cơ chế thị trƣờng, của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của ngành ngân hàng, nâng cao năng lực quản trị rủi ro là công việc sống còn của TCTD.
Sự phát triển mạnh mẽ của các TCTD về chiều rộng và bề sâu đòi hỏi hoạt động quản lý nhà nƣớc của NHNN Việt Nam phải đƣợc đổi mới, theo đó, thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro đối với TCTD là bƣớc đi tất yếu của 4 z NHNN Việt Nam. Thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro là việc đánh giá TCTD trên các mặt: mức độ và xu hƣớng của rủi ro; hiệu quả của quy trình quản lý rủi ro và khả năng tài chính (vốn) của TCTD để chống đỡ, đối mặt với các rủi ro có thể xảy ra. Tác giả đƣa ra 6 bƣớc của quy trình thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro dựa trên 25 nguyên tắc của Hiệp ƣớc Basel. Đề cập đến đặc điểm của hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng, Hoàng Đình Thắng (2011) đã chỉ ra những điểm khác biệt của hoạt động thanh tra, giám sát chuyên ngành ngân hàng: hoạt động thanh tra chuyên ngành khác không có phần giám sát từ xa; các tổ chức thanh tra chuyên ngành thực hiện thanh tra “việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó” (Điều 3 Luật Thanh tra).
NHNN cùng với việc thanh tra theo Điều 3 Luật Thanh tra còn thực hiện thanh tra, giám sát rủi ro với các TCTD và chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài; các tổ chức thanh tra, giám sát chuyên ngành thực hiện thanh tra đối với từng công ty con riêng rẽ, còn NHNN để thực hiện đƣợc thanh tra, giám sát rủi ro phải tiến hành thanh tra, giám sát toàn bộ đối với một TCTD (gồm ngân hàng mẹ, các đơn vị trực thuộc ngân hàng mẹ, các công ty con của ngân hàng mẹ có hoạt động ngân hàng). Nghiên cứu mô hình giám sát ngân hàng theo CAMELS, Dƣơng Văn Thực (2012) đề cập tới khung nghiệp vụ thuộc hoạt động giám sát từ xa, đặt trong mối liên hệ với thanh tra tại chỗ. Thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro và giám sát ngân hàng theo CAMELS có quan hệ chặt chẽ với nhau. Ông cho rằng, trong hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng thì thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro là một phƣơng pháp mới, khác hoàn toàn với phƣơng pháp cũ là thanh tra, giám sát tuân thủ.
Phƣơng pháp mới cung cấp cho các thanh tra viên, giám sát viên cái nhìn toàn diện về rủi ro trong hoạt động ngân hàng một cách bài bản, có cơ sở lý luận rõ 5 z ràng, còn CAMELS là khuôn khổ nghiệp vụ để các thanh tra viên, giám sát viên hƣớng tới. Theo BASEL, sự kết hợp giữa giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ là điều kiện không thể thiếu trong việc tạo nên hiệu quả hoạt động của thanh tra, giám sát ở bất kỳ quốc gia nào, nhất là đối với những quốc gia tổ chức 2 bộ phận giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ riêng biệt nhƣ Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam hiện nay thì điều đó lại càng là vấn đề cấp thiết. Khuôn khổ nghiệp vụ giám sát ngân hàng theo CAMELS: từ thực tiễn hoạt động giám sát từ xa, về mặt logic ông cho rằng, việc xây dựng khuôn khổ CAMELS cần chia làm 2 phần. Thứ nhất, phân chia quá trình giám sát thành các kỳ giám sát gắn với nội dung cảnh báo; thứ hai, lập các báo cáo giám sát và xếp hạng đối với các TCTD.
Hai phần nghiệp vụ này cũng là hai phần chính tạo nên quy trình làm việc của các thanh tra viên, giám sát viên trong quá trình thanh tra, giám sát. Nguyễn Chí Đức (2012) cho rằng một hệ thống giám sát ngân hàng (GSNH) gồm các yếu tố cấu thành sau: cơ quan giám sát của nhà nƣớc, cơ chế kiểm soát nội bộ, kỷ luật thị trƣờng (KLTT- market discipline) và các thành phần khác nhƣ: tổ chức bảo hiểm tiền gửi, hiệp hội ngân hàng. Muốn phát huy tác dụng của hệ thống GSNH thì các yếu tố cấu thành trên đều phải hoạt động và phối hợp với nhau một cách có hiệu quả. Trên cơ sở kết quả phân tích thực trạng các yếu tố cấu thành của hệ thống GSNH Việt Nam, tác giả thấy đƣợc một số vấn đề tồn tại trong hệ thống GSNH đang gặp phải, từ đó đƣa ra một số kết luận và kiến nghị tham khảo có liên quan.
Hoàng Thị Kim Dung (2014) nghiên cứu hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN Việt Nam đối với các TCTD trong nƣớc tại Thành phố Hà Nội trong đó tập trung phân tích cơ sở lý luận về thanh tra, giám sát của NHNN đối với các TCTD, các tiêu chuẩn áp dụng trong hoạt động thanh tra, giám 6 z sát, đó là mô hình CAMELS, hiệp ƣớc BASEL và tình hình áp dụng các tiêu chuẩn này vào hoạt động thanh tra, giám sát các TCTD trong nƣớc tại Cơ quan thanh tra, giám sát NHNN Việt Nam. Những nghiên cứu của các tác giả trên tập trung vào nghiệp vụ thanh tra, giám sát của NHNN đối với các TCTD nói chung, chủ yếu là các NHTM. Trong luận văn này, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN Việt Nam - Chi nhánh Hà Nội đối với QTDND, một đối tƣợng có tính chất đặc thù riêng biệt so với các TCTD khác mà chƣa đƣợc nghiên cứu trong các đề tài nêu trên. Từ đó chỉ ra những mặt đạt đƣợc, những mặt còn hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó.
Đề xuất các giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội đối với QTDND trên địa bàn TP Hà Nội. Cơ sở lý luận về hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nƣớc đối với Quỹ tín dụng nhân dân 1. Tổng quan về Quỹ tín dụng nhân dân 1. Khái niệm Quỹ tín dụng nhân dân Quỹ tín dụng nhân dân xuất hiện vào nửa cuối thế kỷ 19 ở các nƣớc Châu Âu và đầu thế kỷ 20 ở Canada và Hoa Kỳ.
Trƣớc sự phát triển mạnh mẽ của phƣơng thức sản xuất tƣ bản chủ nghĩa, những ngƣời nông dân bị bần cùng hoá buộc phải tìm cách hợp tác, giúp đỡ nhau về vốn để phát triển sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống. Từ những tổ chức sơ khai hình thành ở từng vùng, mang tính tƣơng trợ đơn thuần, dần dần phát triển thành các QTDND hợp tác trong khu vực nông nghiệp, nông thôn. Đến nay, các tổ chức này đƣợc thành lập ở nhiều nƣớc trên thế giới dƣới nhiều hình thức và tên gọi khác nhau nhƣ ngân hàng hợp tác xã, hợp tác xã tín dụng, QTDND, quỹ tín dụng và tiết kiệm,. 7 z Quỹ tín dụng nhân dân là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác, do các thành viên tự nguyện góp vốn thành lập, hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tƣơng trợ giữa các thành viên nhằm phát huy sức mạnh tập thể và của từng thành viên, giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống chủ yếu trong khu vực nông nghiệp và nông thôn.
Mục tiêu hoạt động và vai trò của Quỹ tín dụng nhân dân - Mục tiêu hoạt động Thông thƣờng, mọi doanh nghiệp (trừ doanh nghiệp công ích) thƣờng lấy lợi nhuận làm mục tiêu hoạt động. Tuy nhiên, cũng là một loại hình doanh nghiệp nhƣng QTDND lại hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Điều này đƣợc lý giải bởi căn nguyên của sự hình thành QTDND, đó là: QTDND ra đời vì mục tiêu tƣơng trợ giữa các thành viên và góp phần phát triển cộng đồng. Nhƣng hoạt động QTDND phải đảm bảo bù đắp chi phí và có tích lũy để phát triển.