CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUỸ TÍN DỤNG NHÂN VÀ HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ ĐỐI VỚI QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN YẾU KÉM 1. Cơ sở lý luận về quỹ tín dụng nhân dân 1. Khái niệm quỹ tín dụng nhân dân Trên thế giới, các nước đang sử dụng rất nhiều tên gọi và các khái niệm khác nhau về loại hình tổ chức tín dụng này. Phải kể đến như: Liên hiệp tín dụng (Credit Unions) của Mỹ, Ngân hàng hợp tác xã của Đức,… Theo Tổ chức Hiệp hội các Liên hiệp tín dụng thế giới (WOCCU), “Quỹ tín dụng - được gọi dưới nhiều tên gọi khác nhau tại các nước trên thế giới - là các hợp tác xã tài chính được sở hữu bởi chính khách hàng của mình, nhằm cung cấp các dịch vụ tiết kiệm, tín dụng và các dịch vụ tài chính khác cho thành viên.
Thành viên của các quỹ tín dụng có mối liên kết chung với nhau, dựa trên các mối quan hệ chung về cộng đồng, nghề nghiệp, tổ chức hoặc tín ngưỡng”. Theo Khoản 6 Điều 4 Luật Các Tổ chức tín dụng Văn bản hợp nhất sô 07/VBHN-VPQH ngày 12/12/2017 của Văn phòng Quốc hội: ”Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật Hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ lẫn nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống.” Theo Khoản 1 Điều 3 Luật Hợp tác xã năm 2012: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 7 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã”. Đặc điểm của quỹ tín dụng nhân dân QTDND được hình thành theo hình thức góp vốn cổ phần và hoạt động theo nguyên tắc tập thể, tự nguyện, hợp tác và bình đẳng. Các thành viên tham gia QTD dưới hình thức góp vốn vào quỹ để xác lập tư cách thành viên.
Nhằm đáp ứng nhu 9 cầu tiếp cận vốn tăng gia sản xuất kinh doanh, phục vụ đời sống sinh hoạt một cách ổn định và lâu dài của người dân khi tham gia thành viên. Góp phần phát triển kinh tế xã hội, xoá đói giảm nghèo, hạn chế tín dụng đen trong người dân. Với thời buổi kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt, các QTDND luôn phải đảm bảo đầy đủ các trang thiết bị, cơ sở vật chất để phục vụ thành viên và người dân trước các đối thủ là các TCTD khác, vừa phải trang trải các chi phí hợp lý. Đáp ứng được yêu cầu cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng một cách thuận tiện, thường xuyên và ổn định, lâu dài với mức giá cả có thể chấp nhận được để các thành viên có thể nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và qua đó thu được lợi nhuận cao nhất từ hoạt động sản xuất kinh doanh của riêng mình chứ không phải trước hết nhằm mục tiêu thu được lợi tức vốn góp cao nhất từ các hoạt động của QTDND.
Góp phần phát triển kinh tế - xã hội, tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, hạn chế cho vay nặng lãi trên địa bàn hoạt động. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, để đảm bảo khả năng cạnh tranh của mình trong quá trình hoạt động, các QTDND vừa phải đảm bảo đủ trang trải các chi phí đã bỏ ra, vừa phải đảm bảo có tích lũy với quy mô ngày càng lớn để phát triển nhằm mục tiêu hỗ trợ các thành viên được lâu dài, với điều kiện ngày càng thuận lợi hơn, chất lượng tốt hơn, chi phí hợp lý hơn. Là có mặt tại chỗ, phục vụ bất kỳ ai mong muốn tham gia vào tổ chức, các dịch vụ tài chính phải được cung cấp trong điều kiện tốt nhất, trong khi Qũy vẫn có đủ khả năng trang trải chi phí hoạt động và giáo dục về kinh tế cho thành viên của mình. Tổ chức và nguyên tắc hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân 1.
Tổ chức các quỹ tín dụng nhân dân Tổ chức bộ máy của quỹ tín dụng nhân dân được mô tả trong hình 1.1: Sơ đồ tổ chức hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân (Nguồn: Cơ cấu tổ chức QTDND địa bàn quản lý) a) Thành viên Thành viên vừa là chủ sở hữu, vừa là khách hàng, vừa là người quản lý, điều hành, kiểm soát QTDND; mọi đối tượng đều có quyền trở thành thành viên của QTDND theo đúng nguyên tắc HTX. Ở một số quốc gia, mô hình này còn quy định kết nạp thành viên phụ trợ nhằm tạo điều kiện cho nhiều đối tượng khách hàng được tiếp cận với dịch vụ của QTDND, đồng thời tận dụng được nguồn vốn nhàn rỗi để cho vay thành viên. b) Đại hội thành viên ĐHTV là cơ quan có thẩm quyền quyết định cao nhất, tùy theo số lượng thành viên, QTDND có thể tổ chức ĐHTV dưới hình thức ĐH toàn thể hoặc ĐH đại biểu. Việc bầu đại biểu đi dự ĐH đại biểu thành viên được tiến hành dân chủ, công khai.
Thẩm quyền của ĐHTV: Quyết định việc sửa đổi, thay thế và thông qua Điều lệ, các quy định nội bộ; Bầu, miễn nhiệm thành viên HĐQT, HĐGS; Thông qua báo cáo định kỳ năm trước, chương trình hoạt động năm tiếp theo; Ấn định mức trả thưởng đối với phần vốn góp xác lập và phần vốn góp thường xuyên; Quyết định việc QTDND gia nhập các tổ chức khác; Bổ nhiệm kiểm toán nội bộ; Xử lý các vấn đề quan trọng khác của QTDND. c) Bộ máy quản trị, kiểm soát và điều hành 11 Qua quá trình phát triển hàng trăm năm cho thấy, để đảm bảo cho một QTD hoạt động an toàn hiệu quả cần phải có sự phân định rõ ràng quyền hạn giữa các bộ phận thuộc ĐHTV. Dưới đây là cơ cấu tổ chức tiêu biểu của một QTDND đã áp dụng thành công ở nhiểu quốc gia. - HĐQT do ĐHTV bầu, có chức năng thực hiện các mục tiêu, chiến lược, quản trị hoạt động của QTDND.
- HĐGS cũng do ĐHTV bầu ra, thực hiện các chức năng giám sát mọi hoạt động của QTDND đảm bảo QTD hoạt động tuân thủ đúng pháp luật, điều lệ QTD, nghị quyết của ĐHTV. Nhiệm kỳ của HĐQT, HĐGS thường từ 3 - 5 năm và có thể được bầu lại. Có quốc gia áp dụng hình thức chỉ bầu lại 1/3 số thành viên HĐQT, HĐGS theo nguyên tắc quay vòng hằng năm. Có quốc gia thì quy định nhiệm kỳ của HĐQT không trùng với nhiệm kỳ của HĐGS nhằm tránh tình trạng thỏa hiệp hoặc tạo e-kíp với nhau, có thể làm ảnh hưởng đến sự lành mạnh của QTD.
Thông thường các thành viên của HĐQT, HĐGS không hưởng lương mà chỉ hưởng thù lao công vụ nhằm đảm bảo sự khách quan, tránh xung đột quyền lợi trong quá trình thực thi nhiệm vụ. - Ban điều hành và các bộ phận nghiệp vụ: Ban điều hành QTDND thường có Giám đốc và các Phó Giám đốc, Giám đốc QTDND do HĐQT bổ nhiệm. Giám đốc điều hành các phòng, nhóm nghiệp vụ thực hiện hoạt động kinh doanh hàng ngày của QTD, quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền. Nguyên tắc hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân - Tự nguyện gia nhập và ra khỏi Quỹ tín dụng nhân dân Đây là một trong những nguyên tắc hoạt động cơ bản của QTDND, với tinh chất tự nguyện gia nhập khi đủ điều kiện đều có thể trở thành thành viên của Quỹ, tự nguyện xin ra theo quy định của Điều lệ QTD.
Khi tham gia tự nguyện các thành viên mới là người chủ động quan tâm đến hoạt động và sự phát triển của QTD, giúp cho QTD tập hợp được sức mạnh tinh thần và vật chất từ các thành viên. Không chỉ dừng lại ở sự tự nguyện, muốn thu hút người dân trở thành thành viên của QTD, 12 chính quyền địa phương cũng cần có sự tuyên truyền tích cực về các lợi ích của mô hình, chỉ cho thành viên biết được quyền và nghĩa vụ khi tham gia QTD. - Quản lý dân chủ, bình đẳng và công khai Thành viên có quyền tham gia quản lý, giám sát, kiểm tra hoạt động của QTDND và có quyền tham gia biểu quyết trong Đại hội thành viên. - Tự chủ, chịu trách nhiệm và cùng có lợi QTDND cũng giống như các loại hình TCTD khác, cũng phải tự chủ và tự chịu trách nhiệm với kết quả hoạt động của mình; tự lên phương án, kế hoạch phân phối trong thu chi.
Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước và chi trả các khoản rủi ro tại đơn vị. Thực hiện đúng các nguyên tắc hạch toán kế toán theo quy định của Bộ Tài chính, sau khi trích các khoản Quỹ, QTD thực hiện chia lợi tức cho thành viên trong đó phải có sự chấp thuận phương án từ phía ĐHTV. Chia lãi bảo đảm kết hợp lợi ích của thành viên và sự phát triển của QTDND. - Hợp tác và phát triển cộng đồng Mỗi thành viên khi tham gia QTDND đều phải phát huy được tinh thần xây dựng tổ chức tập thể ngày càng lớn mạnh, hoạt động tuân theo tôn chỉ pháp luật, có trách nhiệm với sự phát triển của địa phương và cộng động.
Các nghiệp vụ hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân 1. Huy động vốn - Nhận tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm của thành viên, tổ chức, cá nhân khác bằng đồng Việt Nam; - Tổng mức nhận tiền gửi thành viên của QTDND có: + Địa bàn hoạt động trên một xã tối thiểu bằng 50% tổng mức nhận tiền gửi của QTDND. + Địa bàn hoạt động liên xã tối thiểu bằng 60% tổng mức nhận tiền gửi của QTDND. + Tổng tài sản 500 tỷ đồng trở lên tối thiểu bằng 70% tổng mức nhận tiền gửi của QTDND; - Vay vốn điều hoà theo quy chế do Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (sau đây 13 viết tắt là NH HTX) ban hành theo quy định của pháp luật; - Vay vốn của TCTD khác (trừ QTDND khác), tổ chức tài chính khác; - Vay vốn từ NH HTX; - Tiếp nhận vốn uỷ thác cho vay của Chính phủ, tổ chức, cá nhân trong nước.