CHƯƠNG 1: CO SO LY LUAN VE HOAT DONG KIEM SOÁT DOI VOI QUY TIN DUNG NHÂN DAN CO SO CUA BẢO HIẾM TIỀN GỬI 1. Quỹ tín dụng nhân dân 1 Khái niệm Theo luật tổ chức tín dụng năm 2010 “Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã đề thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật tô chức tín dụng và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống” [13]. Thành viên của quỹ tín dụng nhân dân bao gồm các cá nhân, hộ gia đình và các pháp nhân góp vốn khác. Số lượng thành viên tối thiểu là 30.
Thanh vién cla QTDND có các quyền lợi cơ bản như sau: ~ Tham dự Đại hội thành viên hoặc bầu đại biểu dự Đại hội thành viên, tham dự các cuộc họp thành viên và biểu quyết về những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội thành viên. ~ Ứng cử, đề cử người vào Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và các chức danh được bầu khác theo quy định. ~ Được gửi tiền, vay vốn, chia lãi theo vốn góp và mức độ sử dụng dịch vụ của quỹ tín dụng nhân dân. - Được hưởng các phúc lợi xã hội chung của quỹ tín dụng nhân dân.
~ Được cung cấp các thông tin cần thiết liên quan đến hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân. 16 ~ Kiến nghị những vấn đề liên quan đến hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân và yêu cầu được trả lời; yêu cầu Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát triệu tập Đại hội thành viên bắt thường đề giải quyết những vấn đề cấp thiết. - Chuyển nhượng vốn góp và các quyền lợi, nghĩa vụ của mình cho người khác theo quy định của pháp luật. ~ Xin ra khỏi quỹ tín dụng nhân dân theo quy định [13] Trên thể giới, QTD xuất hiện trong khoảng thế kỷ 17 ~ 18 dưới nhiều dạng khác nhau.
Đó là các HTX tín dụng liên kết với những nhà sản xuất nhỏ. nhằm chống lại nạn cho vay nặng lãi [16]. Một số đặc điểm về hoạt động của QTDND. ~ QTDND là loại hình TCTD được tổ chức và hoạt động theo mô hình kinh tế hợp tác.
Điều này được đưa ra trên cơ sở xuất phát từ nguồn gốc ra đời của QTDND là do những người nông dân, lao động sản xuất và kinh doanh nhỏ cùng nhau góp vốn thành lập để hỗ trợ nhau được vay vốn để sản xuất kinh doanh để cải thiện đời sống, xoá đói giảm nghèo. Các thành viên vừa là người sở hữu, vừa là hội viên và cũng đồng thời là khách hàng của QTDND; ~ Là loại hình có cơ cấu tổ chức và hoạt động theo mô hình HTX trong đó mọi thành viên đều được quyền tham gia quản lý, kiểm tra giám sát hoạt động và quyết định mọi vấn đề một cách dân chủ, mỗi thành viên được quyền đại diện cho một phiếu bầu mà không phụ thuộc vào vốn góp, các quyết định thuộc về đa số. Đây được coi như một đặc trưng nôi bật của loại hình tô chức này; ~ Các thành viên QTDND đều là các chủ thể hoạt động kinh tế độc lập, khi họ cùng nhau góp vốn thành lập QTDND thì mục tiêu cơ bản đối với họ là được QTDND cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng một cách thuận tiện, 7 thường xuyên và én định lâu dài từ đó có thể nâng cao được hiệu quả hoạt động kinh doanh và qua đó thu được lợi nhuận cao nhất từ những hoạt động sản xuất kinh doanh của riêng mình chứ không phải trước hết nhằm mục tiêu thu được lợi tức góp vốn cao nhất từ các hoạt động cla QTDND. Bảo hiểm tiền gửi 1.
Khái niệm BHTG BHTG đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới. Từ năm 1829 hoạt động, BHTG công khai được thực hiện tại Mỹ nhằm phòng ngừa sự đỗ vỡ mang tính chất định kì của ngân hàng vào thế kỉ XIX. Tuy nhiên, đến năm 1933 khi tình hình tải chính ở Mỹ bị rối loạn, nền kinh tế bị lâm vào tình trạng khủng. hoảng trằm trọng, hàng loạt các ngân hằng bị phá sản, cơ quan BHTG công khai của Nhà nước ở Mỹ lần đầu tiên ra đời (FDIC) nhằm củng cố lòng tin của nhân dân vào hệ thống ngân hàng, bảo vệ người gửi tiền.
Từ đó cho đến nay các quốc gia trên thế giới cũng lần lượt cho ra đời các tổ chức BHTG nhằm bảo vệ người gửi tiền trước nguy cơ phá sản của các tô chức tài chính, đảm bảo sự én định của hệ thống ngân hàng và hạn chế các cuộc khủng hoảng. tài chính Vay BHTG la gì? BHTG có thể hiểu là một loại hình bảo hiểm với những đặc điểm riêng biệt, khác với các loại hình bảo hiểm khác. Hiện nay pháp luật của các nước thường không đưa ra khái niệm về BHTG nói chung mà chỉ xác định mục tiêu, mô hình BHTG, liệt kê các hoạt động của tổ chức BHTG. Theo quan điểm của một số tác giả thì BHTG được hiểu li: “mdr co chế có giới hạn nhưng chính thức cung cấp sự bảo đảm mang tính pháp li cho.
các khoản gốc (và thường cả lầi) của các khoản tiền gửi, hay “BHTG là chính sách bảo đảm tắt cả hoặc một phân tiễn gửi cùng lãi nhập gốc trên tải 18 khoản tiền gửi sẽ được thanh toán cho người gửi tiền khi ngân hàng nhận tiền gửi bị phá sản hay mắt khả năng thanh toán 5], [6][14] Do đó có thê nói BHTG là loại hình bảo hiểm, theo đó bảo đảm nghĩa. vụ chỉ trả trong tương lai các khoản tiền gửi cho người gửi tiễn tai các tổ chức tham gia BHTG khi các tổ chức này gặp rủi ro dẫn đến tình trạng không có. khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn bị buộc giải thể hoặc phá sản. ØỞ Việt Nam, khái niệm BHTG được định nghĩa trong bài nghiên cứu chuyên sâu của văn phòng quốc hội trung tâm thông tin thư viện và nghiên cứu khoa học và BHTG như sau: BHTG: Là cam kết công khai của tổ chức BHTG đối với tổ chức tham gia BHTG về việc tổ chức BHTG sẽ trả tiền gửi cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG bị chấm dứt hoạt động và không có khả năng thanh toán cho người gửi tiền.
Tổ chức BHTG: Tễ chức BHTG là đối tác nhận đóng góp tài chính từ tổ chức tham gia BHTG và có trách nhiệm thực hiện chỉ trả tiền gửi được bảo hiểm đến người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG khi tổ chức đó bị cơ quan có thẩm quyền chấm dứt hoạt động và mắt khả năng thanh toán[4], [1]. [12] Tổ chức tham gia BHTG: Là các ngân hàng và các tô chức tài chính phi ngân hàng có hoạt động huy động tiền gửi. Theo thông lệ quốc tế, hiện nay trên thế giới có hai xu hướng tham gia BHTG, đó là các tổ chức tham gia BHTG có thể tham gia BHTG một cách bắt buộc hoặc tham gia tự nguyện. Điều này tùy thuộc vào chính sách tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.
Tuy nhiên, qua nghiên cứu ở các nước, cho thấy xu hướng phổ. biến hiện nay là tham gia BHTG bắt buộc[1 1], [12] 19 Người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm: Là khách hàng có. tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG. Người gửi tiền không phải đóng góp tài chính cho tô chức BHTG nhưng có quyền yêu cầu tổ chức BHTG thanh toán tiền gửi kể cả tiền lãi tích lũy trên tiền.
gửi đó trong hạn mức chỉ trả tiền gửi được bảo hiểm của tổ chức BHTG có. thể là toàn bộ hoặc một phần tiền gửi do chính sách của mỗi quốc gia [411111112] 1. Đặc điễm của BHTG BHTG thực hiện mục đích bảo vệ người gửi tiền, trong đó đặc biệt chú trọng tới người gửi tiền “nhỏ” thường là những người có hạn chế nhất định trong việc tiếp cận và íL có khả năng phân tích thông tin đối với tổ chức nhận tiền gửi. Những người này thường “nhạy cảm” và dễ bị “tổn thương”, bị tác động nhiều hơn bởi những thông tin xấu, những đồn đại thất thiệt về ngân hàng so với những người gửi tiền khác như các tổ chức kinh doanh, các nhà đầu tư chuyên nghiệp do đó một khi quyền lợi của họ được bảo đảm thì thực tế cho thấy BHTG đã góp phần tăng cường lòng tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng.
Bên cạnh mục đích nêu trên, hoạt động BHTG còn tạo điều kiện cho các ngân hàng nhỏ, mới thành lập có thể cạnh tranh được với các ngân hàng lớn; tăng cường iệm và khuyến khích tăng trưởng kinh tế. Một số đặc điểm nỗi bật của BHTG đó là: BHTG trên thực tế có thể được thực hiện một cách công khai hoặc ngằm, tuy nhiên BHTG công khai sẽ hữu ích hơn đối với người gửi tiễn, lợi ích của người gửi tiền được bảo đảm bằng những thông tin minh bạch và dịch vụ tư vấn của hệ thống BHTG. Chủ thể tham gia BHTG chỉ có thể là tổ chức tài chính có nhận tiên gửi của công chúng dưới các hình thác nhdt định. Với một hệ thông BHTG công.
20 khai thì sự tham gia của các tổ chức nảy là bắt buộc, nhằm tạo sân chơi bình. đẳng giữa các tô chức này, tạo nguồn vốn hoạt động cho tô chức BHTG. Phí BHTG là khoản phí do pháp luật quy định. Các hệ thông BHTG trên thế giới thường đứng trước sự lựa chọn hai loại phí bảo hiểm: phí đồng.
hạng hoặc phí căn cứ vào mức độ rủi ro của từng ngân hàng. Các nước khi mới thành lập hệ thống BHTG thường áp dụng mức phí bảo hiểm đồng hạng để dễ thực hiện và quản lí. Tuy nhiên, xu hướng những năm 90 của thế kỹ XX trở lại đây, các nước chuyển đổi sang chế độ tính phí theo mức độ rủi ro. Đối tượng được bảo hiểm rất đặc biệt đó là: nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền gửi của tổ chức nhận tiền gửi đối với người gửi tiền.
Người nộp phí BHTG tách rời người thụ hưởng bảo hiểm. Tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi của cá nhân bằng nội tệ là loại tiền gửi mà đến nay tắt cả các hệ thống BHTG trên thế giới đều bảo vệ còn các khoản tiền gửi không được bảo hiểm thường, là bằng ngoại tệ hoặc là của các tô chức.