CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC GIÁM SÁT TRONG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI 1.1 Khái quát về bảo hiểm tiền gửi 1.1 Khái niệm, đặc điểm của bảo hiểm tiền gửi 1.1 Khái niệm bảo hiểm tiền gửi Bảo hiểm tiền gửi là sự bảo đảm chi trả cho người gửi tiền được bảo hiểm trong hạn mức bảo hiểm khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng thanh khoản tiền gửi cho người gửi tiền hoặc lâm vào tình trạng phá sản [18, Tr.1] Người được bảo hiểm tiền gửi là cá nhân có tiền gửi tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi được bảo hiểm [18, Tr.1] Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng được nhận tiền gửi của cá nhân [18, Tr.2 Đặc điểm của bảo hiểm tiền gửi BHTG bảo hiểm cho loại hàng hóa đặc biệt đó là tiền gửi của khách hàng gửi vào các tổ chức tín dụng. Khách hàng của BHTG là những tổ chức nhận tham gia BHTG để bảo vệ cho quyền lợi của khách hàng gửi tiền. Tổ chức nhận tiền gửi có trách nhiệm đóng phí BHTG và việc tham gia bảo hiểm tiền gửi là bắt buộc, không thông qua hợp đồng bảo hiểm. Tiền bảo hiểm được chi trả cho người gửi tiền khi TCTD mất khả năng thanh khoản được các khoản tiền gửi đến hạn, và lâm vào tình trang phá sản.
Các khoản tiền gửi này sẽ được chi trả theo hạn mức mà BHTG quy định. Hạn mức chi trả của BHTG kể từ năm 2021 được nâng lên hạn mức 125.000 đ (Một trăm hai mươi lăm triệu đồng)/1 tổ chức tham gia BHTG. 8 Giấy chứng nhận Bảo hiểm tiền gửi được niêm yết công khai, dễ nhìn, dễ quan sát và phải được niêm yết đúng số theo quyết định được cấp đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi ở tất cả các điểm giao dịch.2 Vai trò của bảo hiểm tiền gửi Đối với người gửi tiền, BHTG góp phần củng cố niềm tin đối với hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền. Đối với tổ chức tín dụng, bảo hiểm tiền gửi giúp TCTD phát triển an toàn, lành mạnh, sử dụng tốt nguồn vốn vay trong dân cư tạo điều kiện thúc đẩy phát triển nền kinh tế.3 Các nghiệp vụ chính của bảo hiểm tiền gửi Tuỳ vào mục đích và mô hình tổ chức của tổ chức BHTG ở mỗi quốc gia mà tổ chức này ở mỗi quốc gia có những hoạt động nghiệp vụ cụ thể.
Tuy nhiên, nhìn chung các tổ chức BHTG trên thế giới đều thực hiện một số hoạt động cơ bản đó là: 1.1 Nghiệp vụ cấp, thu hồi Chứng nhận tham gia BHTG Chứng nhận tham gia BHTG là chứng chỉ khẳng định tư cách của tổ chức tham gia BHTG. Việc được cấp chứng nhận tham gia BHTG đồng nghĩa với việc TCTD có quyền huy động vốn và ngược lại, việc thu hồi giấy phép cùng với thông báo rộng rãi trên phương tiện thông tin đại chúng đồng nghĩa với việc TCTD không còn uy tín cũng như quyền thực hiện nghiệp vụ huy động vốn. Các tổ chức tham gia BHTG có trách nhiệm nộp phí bảo hiểm tiền gửi và chấp hành các quy định liên quan đến BHTG.2 Nghiệp vụ tính và thu phí BHTG Phí bảo hiểm là khoản tiền tổ chức tham gia bảo hiểm phải nộp cho người được bảo hiểm tiền gửi. Luật Bảo hiểm tiền gửi do Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định khung phí bảo hiểm tiền gửi.
Phí BHTG được tính và thu phí dựa trên số dư bình quân tiền gửi được bảo hiểm được tại các tổ chức tham gia BHTG. 9 Tại Việt Nam đang áp dụng mức phí bảo hiểm tiền gửi đồng hạng là 0,15%/năm trên tổng số dư tiền gửi được bảo hiểm đối với tất cả các tổ chức tham gia BHTG.3 Nghiệp vụ kiểm tra tổ chức tham gia BHTG Để thực hiện được mục tiêu đề ra, tổ chức BHTG cần tiến hành hoạt động kiểm tra khách hàng theo hai giác độ: kiểm tra việc chấp hành các quy định về BHTG và kiểm tra việc chấp hành các quy định đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng.4 Nghiệp vụ giám sát tổ chức tham gia BHTG BHTG thực hiện công tác giám sát tổ chức tham gia BHTG thường xuyên trên cơ sở các nguồn thông tin về khách hàng tham gia BHTG mà tổ chức BHTG có được. Nội dung của hoạt động giám sát là đánh giá tình hình hoạt động của tổ chức tham gia BHTG, đưa ra các khuyến nghị về hoạt động của các tổ chức đó trên cơ sở đảm bảo tuân thủ các quy định về BHTG và quy định về an toàn trong hoạt động ngân hàng. Kết quả của hoạt động giám sát tổ chức tham gia BHTG còn là cơ sở để tiến hành hoạt động kiểm tra của BHTG.
Hoạt động giám sát cho phép tổ chức BHTG có thể tiến hành kiểm tra chọn mẫu, không nhất thiết phải kiểm tra tất cả các tổ chức tham gia BHTG. Hơn nữa, nền kinh tế càng phát triển, điều tiết đối với nền kinh tế cần được tổ chức ở trình độ cao hơn, cần tìm các giải pháp để khuyến khích tuân thủ các quy định từ các tổ chức tham gia BHTG một cách tự giác. Khi chất lượng công tác hoạt động giám sát tổ chức tham gia BHTG được nâng cao mục đích này sẽ đạt được.5 Nghiệp vụ tuyên truyền chính sách về bảo hiểm tiền gửi Tuyên truyền chính sách về bảo hiểm tiền gửi là nghiệp vụ được thực hiện thường xuyên liên tục. Thông qua website của ngành, các cơ quan đài, báo, đài truyền hình trung ương, địa phương …để truyền tải những thông điệp chính sách bảo hiểm tiền gửi tới người dân.
10 Cung cấp thông tin đến cơ quan truyền thông kịp thời và chính xác; tổ chức tốt các buổi họp báo khi có sự kiện; thường xuyên trao đổi thông tin với báo chí trong và ngoài ngành để tuyên truyền hiệu quả chính sách BHTG và hình ảnh tổ chức.6 Hoạt động chi trả bảo hiểm và quản lý thanh lý tài sản sau khi chi trả bảo hiểm tiền gửi Chi trả BHTG xảy ra khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị mất khả năng thanh toán và bị chấm dứt hoạt động. Mức chi trả bảo hiểm tuỳ thuộc vào chính sách BHTG của mỗi quốc gia được tính toán dựa trên thu nhập quốc nội bình quân đầu người, yếu tố lạm phát, tính tuân thủ kỷ cương thị trường. Tùy thuộc vào mỗi hệ thống BHTG có quy định về hạn mức trả tiền BHTG khác nhau. Chi trả tiền bảo hiểm kịp thời sẽ tạo sự an tâm cho người gửi tiền, chống lại khủng hoảng hệ thống tài chính.
Hạn mức chi trả bảo hiểm hiện nay tại Việt Nam là 125 triệu cho tất cả các khoản tiền được bảo hiểm tại tổ chức tham gia bảo hiểm.2 Công tác giám sát của bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam 1.1 Khái niệm và vai trò của giám sát Giám sát ngân hàng là tất cả các hoạt động đảm bảo cho sự an toàn của hệ thống ngân hàng, bao gồm các hoạt động: giám sát từ xa, kiểm tra tại chỗ và cưỡng chế. Hoạt động giám sát của BHTG là hoạt động nhằm đảm bảo việc tuân thủ các quy định của pháp luật về BHTG dựa trên phương thức giám sát từ xa. Trong luận văn, khái niệm hoạt động giám sát của BHTG được thống nhất sử dụng theo nghĩa hẹp. Vai trò của hoạt động giám sát được thể hiện cụ thể như sau : Trước hết, đối với BHTGVN, hoạt động giám sát là trách nhiệm và quyền hạn của BHTGVN đối với tổ chức tham gia BHTG.
Hoạt động giám sát nhằm phát hiện, ngăn ngừa rủi ro đặc biệt là rủi ro đạo đức của tổ chức tham gia BHTG. 11 Hai là, đối với tổ chức tham gia BHTG, hoạt động giám sát của BHTG góp phần hạn chế rủi ro trong hoạt động và bảo đảm an toàn cho tổ chức tham gia BHTG và cho cả hệ thống NH. Do vậy, vai trò giám sát của BHTG càng trở nên quan trọng hơn. Kết quả giám sát của BHTG giúp tổ chức tham gia BHTG khắc phục chỉnh sửa tồn tại, vi phạm trong hoạt động.
Ba là, đối với xã hội, hoạt động giám sát của BHTG đối với tổ chức nhận tiền gửi sẽ giảm thiểu rủi ro khi tổ chức tham gia BHTG có hạn chế trong kiểm soát rủi ro của mình. Giám sát nhằm ngăn ngừa, dập tắt đổ vỡ NH có tính dây chuyền, lây lan toàn hệ thống, góp phần ổn định kinh tế, chính trị và xã hội.2 Đối tượng giám sát Các tổ chức tham gia BHTG là đối tượng giám sát của BHTG. Tham gia bảo hiểm tiền gửi là chia sẻ rủi ro của bản thân tổ chức BHTG và gánh nặng của Chính phủ trong việc tài trợ cho các hoạt động xử lý.3 Phương pháp giám sát 1.1 Phương pháp giám sát tuân thủ Phương pháp giám sát tuân thủ là phương pháp giám sát các tổ chức tham gia BHTG qua việc theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, các quy định khác của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; việc thực hiện các chỉ đạo, yêu cầu của NHTW, thực hiện các kết luận thanh tra, khuyến nghị, cảnh báo về giám sát ngân hàng. Phương pháp giám sát tuân thủ hiện nay đã tỏ ra kém hiệu quả và không theo kịp với sự phát triển của hệ thống tài chính ngân hàng tại Việt Nam.2 Phương pháp giám sát rủi ro Phương pháp giám sát rủi ro là phương pháp giám sát các TCTD thông qua việc đánh giá các rủi ro từng TCTD đang và sẽ gặp, bao gồm rủi ro tín dụng, rủi ro thanh toán, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động và các rủi ro, đánh 12 giá rủi ro hệ thống của các TCTD nhằm bổ sung nguồn lực giám sát và đưa ra các biện pháp xử lý phù hợp.
Tại các quốc gia hoạt động ngân hàng tương đối phát triển, phương pháp giám sát rủi ro thường được áp dụng. Phương pháp này đòi hỏi một sự phát triển đồng bộ về cơ sở pháp lý, quản lý thông tin, các công cụ định lượng và trình độ của cán bộ giám sát về khả năng phân tích và sử dụng định lượng.