Chương 1: Giới thiệu đề tài. Trong chương này, tác giả tóm tắt các nội dung chính của đề tài như lý do, mục tiêu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới. Trong chương này, tác giả trình bày các lý thuyết liên quan đến thanh khoản và tỷ suất sinh lợi cổ phiếu; đồng thời, tóm tắt kết quả các nghiên cứu thực nghiệm trước TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 đó liên quan đến mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi vượt trội và tính thanh khoản của cổ phiếu.
Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu. Trong chương này, tác giả trình bày phương pháp nghiên cứu, nguồn dữ liệu và đồng thời mô tả biến được sử dụng trong bài nghiên cứu. Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu. Trong chương này, tác giả phân tích ảnh hưởng của tính thanh khoản lên tỷ suất sinh lợi của các cổ phiếu được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán HOSE.
Tác giả sử dụng 3 mô hình định giá tài sản và 3 thước đo đại diện cho thanh khoản để làm vững kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận. Trong chương này, tác giả tổng kết các vấn đề nghiên cứu, các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.
Lý thuyết về thanh khoản và tỷ suất sinh lợi cổ phiếu 2. Lý thuyết về thanh khoản Tính thanh khoản của tài sản được xem là việc chuyển đổi một tài sản thành tiền mặt một cách dễ dàng mà không bị sụt giảm giá cả và không phát sinh chi phí kèm theo. Nếu một tài sản không có tính thanh khoản hoặc tính thanh khoản kém thì nhà đầu tư nắm giữ tài sản đó sẽ gặp khó khăn trong việc bán tài sản do khó tìm người mua hoặc phải chấp nhận bán tài sản với giá thấp. Vì vậy, tính thanh khoản được xem là một yếu tố quan trọng trong việc ra quyết định đầu tư.
Lý thuyết về tỷ suất sinh lợi cổ phiếu 2. Mô hình định giá tài sản vốn (Capital asset pricing model – CAPM) Mô hình định giá tài sản vốn (Capital asset pricing model – CAPM) do William Sharpe, John Lintner và Jack Treynor phát triển từ những năm 1960 để mô tả mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng. Trong mô hình này, lợi nhuận kỳ vọng của một chứng khoán bằng lợi nhuận phi rủi ro (risk-free) cộng với một khoản bù đắp rủi ro dựa trên cơ sở rủi ro hệ thống của chứng khoán đó. Rủi ro phi hệ thống không được xem xét trong mô hình này vì nhà đầu tư có thể đa dạng hoá danh mục đầu tư để loại bỏ loại rủi ro này.
Với quan điểm này, mô hình CAPM thể hiện mối quan hệ giữa lợi nhuận kỳ vọng và rủi ro qua công thức sau: 𝑅𝑖 = 𝑅𝑓 + 𝛽(𝑅𝑚 − 𝑅𝑓 ) Trong đó: 𝑅𝑖 là tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của chứng khoán 𝑅𝑚 là tỷ suất sinh lợi của danh mục thị trường 𝑅𝑓 là tỷ suất sinh lợi phi rủi ro 𝛽 là beta chứng khoán, có giá trị trong đoạn [0;1] Công thức CAPM còn có thể được viết lại như sau: 𝑅𝑖 − 𝑅𝑓 = 𝛽(𝑅𝑚 − 𝑅𝑓 ) Tức là: Phần bù rủi ro chứng khoán = 𝛽 × phần bù rủi ro thị trường TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Như vậy, tỷ suất sinh lợi của một chứng khoán có mối tương quan với beta của nó: một chứng khoán có beta càng lớn thì phần bù rủi ro lớn thể hiện rủi ro cao và một tỷ suất sinh lợi cao, và ngược lại. Một chứng khoán có 𝛽 ≈ 1 thì có tỷ suất sinh lợi tương đương tỷ suất sinh lợi thị trường, một chứng khoán có 𝛽 ≈ 0 thì có tỷ suất sinh lợi tương đương tỷ suất sinh lợi phi rủi ro, thông thường đây là các chứng khoán do Chính phủ phát hành. Đối với một mô hình đơn giản, các giả định là cần thiết để không làm thay đổi tính chất vấn đề. Mô hình CAPM có các giả định cơ bản sau: - Thị trường vốn là hiệu quả: nhà đầu tư được cung cấp thông tin đầy đủ, chi phí giao dịch không đáng kể, không có những hạn chế đầu tư, và không có nhà đầu tư nào đủ lớn để ảnh hưởng đến giá cả của một loại chứng khoán nào đó.
Nói khác đi, giả định thị trường vốn là thị trường hiệu quả và hoàn hảo. - Nhà đầu tư kỳ vọng thuần nhất, lựa chọn hợp lý và chỉ có hai cơ hội đầu tư: đầu tư vào chứng khoán phi rủi ro và đầu tư vào danh mục cổ phiếu thường trên thị trường. Một số hạn chế của mô hình trong áp dụng thực tiễn: Mô hình CAPM có ưu điểm là đơn giản và có thể ứng dụng trên thực tế. Có thể nói, với vai trò tiên phong trong việc đánh giá rủi ro từ một cơ hội đầu tư và ước lượng tỷ suất sinh lợi mà nhà đầu tư đòi hỏi, CAPM là một thành công không thể phủ nhận.
Tuy nhiên, mô hình CAPM dựa trên các giả định không thể xảy ra trong thực tế. Hơn nữa, giá trị beta của các cổ phiếu không cố định theo thời gian. Ngoài ra, khi các nhà nghiên cứu áp dụng mô hình CAPM đã phát hiện ra một số yếu tố làm ảnh hưởng đến độ chính xác của mô hình, bao gồm: - Ảnh hưởng của quy mô doanh nghiệp: các nhà nghiên cứu phát hiện rằng cổ phiếu của các doanh nghiệp có vốn hóa thị trường nhỏ thì đêm lại lợi nhuận cao hơn cổ phiếu của những doanh nghiệp có vốn hóa thị trường lớn, nếu các doanh nghiệp tương đồng nhau về các yếu tố khác, như nghiên cứu của Banz (1981). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 - Ảnh hưởng của tỷ số thu nhập cổ phần trên giá cổ phần E/P: các nhà nghiên cứu thấy rằng cổ phiếu của những doanh nghiệp có tỷ số E/P cao thì đem lại lợi nhuận cao hơn so với các cổ phiếu của những doanh nghiệp có tỷ số E/P thấp, như nghiên cứu của Basu (1983).
- Ảnh hưởng của tỷ số BE/ME: các nhà nghiên cứu thấy rằng cổ phiếu của các doanh nghiệp có tỷ số BE/ME cao thì đem lại lợi nhuận cao hơn những doanh nghiệp có tỷ số BE/ME cao, như nghiên cứu của Rosenberg, Reid, và Lanstein (1985). - Ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính: các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng các doanh nghiệp có sử dụng đòn bẩy tài chính thì có lợi nhuận cao hơn các doanh nghiệp không có sử dụng hoặc sử dụng đòn bẩy ít hơn, như nghiên cứu của Bhandari (1988). Mặc dù vậy, cho đến nay, nhiều mô hình khác đã được đề xuất và giải thích động thái thị trường tương đối tốt hơn nhưng mô hình CAPM là mô hình đơn giản về mặt khái niệm và có khả năng ứng dụng sát với thực tiễn. Mô hình 3 nhân tố Fama-French (1992) Năm 1992, Eugene Fama – một giá sư tài chính người Mỹ, cùng với Kenneth French đã chứng minh tính thiếu hiệu quả của mô hình CAPM bằng nghiên cứu thực nghiệm cho các công ty niêm yết trên sàn giao dịch NYSE, AMEX và NASDAQ trong giai đoạn 1963-1990, cho thấy mối quan hệ yếu giữa beta và tỷ suất sinh lợi của chứng khoán.
Dựa trên một mô hình trong đó tổng hợp nhiều yếu tố khác có khả năng ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi, cuối cùng, Fama và French chỉ ra rằng nhân tố quy mô và BE/ME là những yếu tố có mối quan hệ mạnh nhất, từ đó đưa ra mô hình 3 nhân tố. 𝑟𝑖 = 𝛼 + 𝛽𝑖𝑀 𝑟𝑚𝑡 + 𝛽𝑖𝐻 𝐻𝑀𝐿 + 𝛽𝑖𝑆 𝑆𝑀𝐵 + 𝜀𝑖 (3) Trong đó: 𝑟𝑖 biểu thị tỷ suất sinh lợi vượt trội dự kiến của cổ phiếu i 𝑟𝑚𝑡 = 𝑟𝑚 − 𝑟𝑓 biểu thị tỷ suất sinh lợi vượt trội của danh mục thị trường 𝜀𝑖 biểu thị phần tỷ suất sinh lợi vượt trội không giải thích được TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 HML và SMB đại diện cho nhân tố quy mô và nhân tố giá trị: - Nhân tố quy mô SMB đo lường lợi nhuận tăng thêm của nhà đầu tư khi đầu tư vào những công ty có giá trị vốn hóa thị trường nhỏ. Phần lợi nhuận tăng thêm này đôi khi còn được gọi là phần bù của quy mô, tức là lợi nhuận do quy mô của công ty mang lại. Một SMB dương chỉ ra rằng những chứng khoán có quy mô nhỏ luôn tốt hơn (tức là có tỷ suất sinh lợi cao hơn) những chứng khoán có quy mô lớn.
Một SMB âm thì thể hiện điều ngược lại, chứng khoán có quy mô lớn hơn sẽ mang lại tỷ suất sinh lợi cao hơn những chứng khoán có quy mô nhỏ. - Nhân tố giá trị HML đo lường lợi nhuận tăng thêm của nhà đầu tư khi đầu tư vào những công ty có tỷ số giá trị sổ sách trên giá trị thị trường (BE/ME) cao (các cổ phiếu này được gọi là cổ phiếu giá trị). HML còn được gọi là phần bù giá trị, tức là phần tỷ suất sinh lợi tăng thêm do cổ phiếu giá trị mang lại. Một HML dương thể hiện những cổ phiếu giá trị tốt hơn (có tỷ suất sinh lợi cao hơn) so với những cổ phiếu có tỷ số giá trị sổ sách trên giá trị thị trường thấp (gọi là những cổ phiếu tăng trưởng).
Một HML âm thì ngược lại, thể hiện rằng những cổ phiếu tăng trưởng đem lại tỷ suất sinh lợi cao hơn những cổ phiếu giá trị. Các hệ số hồi quy của nhân tố SMB và HML (𝛽𝑖𝑆 và 𝛽𝑖𝐻 ): mô hình 3 nhân tố Fama- French cho rằng tỷ suất sinh lợi cao là phần thưởng cho sự chấp nhận rủi ro cao. Danh mục i bao gồm những cổ phiếu có vốn hóa thị trường cao thì sẽ có hệ số 𝛽𝑖𝑆 thấp và ngược lại đối với những danh mục gồm những cổ phiếu có vốn hóa thị trường thấp, sẽ có 𝛽𝑖𝑆 cao. Danh mục i bao gồm những cổ phiếu giá trị thì sẽ có hệ số 𝛽𝑖𝐻 cao và ngược lại đối với những danh mục gồm những cổ phiếu tăng trưởng, sẽ có 𝛽𝑖𝐻 thấp.
Mô hình 4 nhân tố Carhart (1997) Hiệu ứng quán tính lần đầu tiên được tìm thấy bởi Jegadeesh và Titman vào năm 1993. Họ phát hiện ra các cổ phiếu Mỹ có diễn biến giá tốt (hoặc không tốt) trong 3 đến 12 tháng gần nhất sẽ tiếp tục diễn biến tốt (hoặc không tốt) trong 3 đến 12 tháng tiếp theo. Jegadeesh và Titman cũng tìm ra một danh mục đầu tư bằng không (zero investment portfolio) được tạo lập bằng cách mua những cổ phiếu tăng giá gần đây TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.