Chương I – Những vấn đề lý luận chung về việc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án; Chương II – Pháp luật của một số quốc gia về xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án; Chương III – Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án tại Việt Nam. 6 z CHƢƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH THẨM QUYỀN XÉT XỬ DÂN SỰ QUỐC TẾ CỦA TÒA ÁN 1. Khái niệm “quan hệ dân sự quốc tế” Khái niệm ―quan hệ dân sự quốc tế‖ hay ―quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài‖ hiện vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi, không chỉ trong khoa học pháp lý ở Việt Nam, mà còn ở nhiều nước trên thế giới. Điều đó được lý giải bởi thực tế cho thấy có sự khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, giữa những tư tưởng, quan điểm của các nhà khoa học, luật gia thuộc các quốc gia với các hệ thống pháp luật khác nhau.
Sự khác nhau này xoay quanh các vấn đề về phạm vi (nội hàm) của khái niệm quan hệ dân sự, về cách thức xác định yếu tố nước ngoài trong loại quan hệ này, về vị trí của nó là thuộc đối tượng điều chỉnh của ngành luật nào (luật dân sự hay luật Tư pháp quốc tế).Một trong các nguyên nhân dẫn đến những quan điểm khác nhau thể hiện ở chỗ, tùy thuộc vào mục đích điều chỉnh của mỗi ngành luật, tùy thuộc vào ý đồ của nhà làm luật hay nói rộng ra là của giai cấp thống trị. Khái niệm “quan hệ dân sự” Để có thể hiểu khái niệm quan hệ dân sự quốc tế, trước hết xin đề cập sơ lược về khái niệm ―quan hệ dân sự‖. Thế nào là quan hệ dân sự? Quan hệ dân sự là những quan hệ nào? Đây cũng là vấn đề gây tranh cãi đối với các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Đương nhiên, ai c ̣ũng cho r ằng, quan hệ dân sự là đối tượng điều chỉnh của luật dân sự.
Nhưng quan hệ dân sự gồm những loại quan hệ nào, thì hiện còn rất nhiều ý kiến khác nhau. Theo ý kiến của các chuyên gia Nhật Bản tại các cuộc hội thảo, tọa đàm khoa học về việc sửa đổi Bộ luật dân sự Việt Nam 1995, thì quan hệ dân sự là tất cả các quan hệ giữa con người (chủ yếu là cá nhân, pháp nhân) với nhau; còn các quan hệ giữa cá nhân với Nhà nước thì thuộc đối tượng điều chỉnh của luật công. Song cũng có ý kiến cho rằng, quan hệ dân sự phải hiểu theo nghĩa rộng, tức là bao gồm cả các quan hệ hôn nhân và gia đình, lao động, thương mại. 7 z Nói đến vấn đề này, không thể không nhắc đến sự phân loại pháp luật thành ―luật công‖ (công pháp - droit public) và ―luật tư‖ (tư pháp - droit privé) ở nhiều nước hiện nay.
Đối với đại đa số các nước chia pháp luật thành luật công và luật tư (điển hình là Pháp, Italia, Cộng hòa Liên bang Đức và các nước theo hệ thống Civil Law), thì dân luật (luật dân sự) - cùng với luật thương mại, luật lao động. - được xếp vào luật tư [12]. Do đó, ở đây quan hệ dân sự được hiểu là đối tượng điều chỉnh của luật tư. Nhưng ở các nước không có sự phân chia pháp luật thành luật công và luật tư (điển hình là Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, cũng như Việt Nam hiện nay), thì phạm vi quan hệ dân sự thường bao gồm quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản.
Theo quan điểm của nhiều luật gia Việt Nam, thì phạm vi quan hệ dân sự (đối tượng điều chỉnh của luật dân sự) bao gồm ―những nhóm quan hệ xã hội giữa người với người, phát sinh trong cuộc sống hàng ngày. Đó là: nhóm quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân phát sinh trong quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông, trao đổi, tiêu dùng. nhằm thỏa mãn những nhu cầu về mọi mặt của các chủ thể trong sản xuất, kinh doanh hoặc trong sinh hoạt, tiêu dùng của đời sống xã hội‖ [17]. Như vậy, khái niệm quan hệ dân sự ở đây được hiểu theo nghĩa khá rộng, song không trái với quy định tại Điều 1 của Bộ luật dân sự 2005 (chủ yếu bao gồm các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân).
Phạm vi quan hệ tài sản - đối tượng điều chỉnh của luật dân sự - cũng rất phong phú, là ―quan hệ giữa người với người thông qua một tài sản nhất định như tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng hoặc các quyền về tài sản‖ [17]. Còn phạm vi quan hệ nhân thân - đối tượng điều chỉnh của luật dân sự - ―là những quan hệ mà theo khoa học luật dân sự được hình thành từ một giá trị tinh thần của một cá nhân hoặc một tổ chức và luôn gắn liền với cá nhân hoặc tổ chức đó‖ [17]. Từ những phân tích trên đây, có thể đi đến nhận định rằng, khái niệm ―quan hệ dân sự‖, theo quan điểm của đông đảo các luật gia, nhà nghiên cứu khoa học pháp lý của Việt Nam, được hiểu tương đối thống nhất là các quan hệ giữa con người với nhau trong cuộc sống hàng ngày, các quan hệ về đời sống, sinh hoạt, tiêu dùng hoặc 8 z sản xuất, kinh doanh trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện, tự do ý chí [17]. Theo quan điểm này, thì việc coi các quan hệ hôn nhân và gia đình là quan hệ dân sự cũng hoàn toàn có cơ sở.
Vì vậy, nhiều nước đưa các quan hệ hôn nhân và gia đình vào Bộ luật dân sự (Pháp, Nhật Bản, Canada.), song cũng có nước đưa vào một đạo luật riêng (Việt Nam, Trung Quốc, Nga. Tuy nhiên, dù để ở đâu, thì các quan hệ hôn nhân và gia đình cũng là quan hệ dân sự (có tính chất dân sự) và thuộc đối tượng điều chỉnh của luật tư. Ở Việt Nam không có sự phân chia pháp luật thành luật công và luật tư. Sự phân chia các ngành luật vẫn có rất nhiều ý kiến và ngay cả phạm vi của ngành luật dân sự Việt Nam cũng vẫn có những quan điểm không thống nhất.
Các quan hệ hôn nhân và gia đình, tuy được điều chỉnh bằng một đạo luật riêng (Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, 1986, 2000), song trên các mức độ nhất định, vẫn được Bộ luật dân sự điều chỉnh (tại các Điều 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, …) [2], tuy chỉ là sự điều chỉnh có tính nguyên tắc. Rõ ràng là, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các quan hệ dân sự ngày càng có vai trò quan trọng trong thực tiễn đời sống xã hội. Do đó, ―việc điều chỉnh các quan hệ xã hội có tính chất đặc trưng là cần thiết và phải có sự điều chỉnh bằng pháp luật đối với các nhóm quan hệ xã hội đó. Đây là một vấn đề không thể thiếu trong một nền kinh tế hàng hóa‖ [17].
Việc điều chỉnh các quan hệ dân sự còn đồng thời là cơ sở để thực hiện mục đích duy trì, phát triển quan hệ xã hội trong các lĩnh vực tài sản, nhân thân và quan trọng hơn là duy trì một trật tự pháp lý trong trao đổi hàng hóa, bảo đảm cho hoạt động của các chủ thể được tiến hành bình thường, với sự bảo hộ cần thiết của Nhà nước trong những trường hợp nhất định. Khái niệm “quan hệ dân sự quốc tế” Ngày nay, các nhà khoa học đều thống nhất cho rằng, trong lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài người, ngoài những mối quan hệ phát sinh trong nội bộ dân cư của một quốc gia, thì còn tồn tại và phát sinh nhiều mối quan hệ khác vượt ra khỏi phạm vi nội bộ dân cư của một quốc gia, đòi hỏi phải được pháp luật điều chỉnh. Đó là các quan hệ giữa những người thuộc các quốc tịch khác nhau, hoặc các 9 z quan hệ của công dân nước này phát sinh trên lãnh thổ nước kia liên quan đến việc mua bán tài sản, giao kết hợp đồng, hôn nhân và gia đình, thừa kế, lao động v. Đây là các quan hệ quốc tế hay quan hệ có yếu tố nước ngoài.
Chúng ta biết rằng, thuật ngữ ―yếu tố nước ngoài‖ (foreign elements) được ghép với thuật ngữ ―quan hệ dân sự‖ (civil relations) thành thuật ngữ ―quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài‖ (the civil relations containing foreign elements). Vấn đề quan trọng trong lý luận và thực tiễn Tư pháp quốc tế là xác định yếu tố nước ngoài trong các quan hệ dân sự, từ đó dẫn đến phân biệt những quan hệ dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của Tư pháp quốc tế với những quan hệ không thuộc phạm vi điều chỉnh của Tư pháp quốc tế. Trước hết, cần phân biệt hai thuật ngữ ―yếu tố nước ngoài‖ và ―nhân tố nước ngoài‖ mà trong các công trình nghiên cứu hoặc trong một số văn bản pháp luật của Việt Nam đã từng sử dụng (như Thông tư số 11/TATC ngày 12 tháng 7 năm 1974 của Tòa án Nhân dân Tối cao hướng dẫn một số vấn đề về nguyên tắc và về thủ tục trong việc giải quyết những việc ly hôn có nhân tố nước ngoài). Nếu sử dụng thuật ngữ nhân tố nước ngoài, chữ nhân theo nghĩa Hán -Việt được hiểu là người (), thì có thể dẫn đến việc hiểu ý nghĩa của thuật ngữ này chỉ theo nghĩa hẹp, tức là khi quan hệ dân sự có người nước ngoài tham gia.
Còn sử dụng thuật ngữ yếu tố nước ngoài, thì dẫn đến cách hiểu với đầy đủ ý nghĩa hơn. Ở các nước, quan điểm về yếu tố nước ngoài rất khác nhau, tuy nhiên quan điểm tương đối thống nhất của các luật gia trong và ngoài nước đều cho rằng, khi quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây thì được coi là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài: thứ nhất, khi trong quan hệ đó có người nước ngoài hoặc pháp nhân nước ngoài tham gia; thứ hai, khi căn cứ pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài; thứ ba, khi tài sản liên quan đến quan hệ đó tồn tại ở nước ngoài. Như vậy, quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài có thể là quan hệ dân sự thuộc một, hai hoặc cả ba trường hợp đó.