CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN QUÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự Để hiểu rõ về khái niệm thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự, trước hết chúng ta phải tìm hiểu thế nào là thẩm quyền xét xử của Tòa án nói chung. Thẩm quyền không chỉ thể hiện được sự khác biệt giữa các cơ quan Nhà nước với nhau mà còn là thuộc tính tất yếu của cơ quan quyền lực Nhà nước. Có thể thấy, đối với một cơ quan Nhà nước, thẩm quyền giữ vai trò rất quan trọng, nên trước tiên ta cần hiểu rõ khái niệm “Thẩm quyền”.
Theo từ điển tiếng Việt, “Thẩm quyền là quyền xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề theo pháp luật” [35, tr. Trong từ điển Luật học thì thẩm quyền được ghi nhận là: “Tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan, tổ chức thuộc bộ máy Nhà nước do pháp luật quy định như thẩm quyền của TA các cấp, thẩm quyền của VKS các cấp, của cơ quan Công an các cấp. Hành động, quyết định trong phạm vi thẩm quyền do luật pháp quy định là điều kiện để đảm bảo trật tự pháp luật và pháp chế thống nhất, tránh được sự trùng lặp, lấn sân trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan các cấp, các ngành. Vượt qua thẩm quyền, làm trái thẩm quyền trong ban hành các văn bản, quyết định là cơ sở pháp lý để hủy bỏ các văn bản ấy”.
Như vậy, dưới những góc độ khác nhau thì khái niệm thẩm quyền được giải thích có đôi chút khác nhau. Tuy nhiên, có thể chung quy lại, “Thẩm quyền là thuật ngữ dùng để chỉ phạm vi, giới hạn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cá nhân hoặc cơ quan Nhà nước trong việc thực thi quyền lực Nhà nước được pháp luật quy định”. Cũng theo từ điển Luật học, “xét xử là hoạt động đặc trưng, là chức năng, nhiệm vụ của các TA. Các TA là những cơ quan duy nhất của một nước đảm nhiệm chức năng xét xử.
Mọi bản án do TA tuyên đều phải qua xét xử. Không ai có thể bị buộc tội mà không qua xét xử của các TA và kết quả xét xử phải được công bố bằng 5 bản án”. Như vậy, chỉ có TA là cơ quan xét xử duy nhất của một đất nước, mọi bản án đều phải là kết quả của việc xét xử. Không có cơ quan nào được thực hiện nhiệm vụ xét xử, ngoại trừ TA.
Hiến pháp Việt Nam quy định, việc xét xử chỉ do Tòa án thực hiện. TAND tối cao, các Tòa án địa phương, các TAQS và các Tòa án khác do pháp luật quy định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Như vậy, cơ quan Tòa án đã được Nhà nước giao cho nhiệm vụ trung tâm trong việc thực hiện quyền tư pháp. Để thực hiện được vai trò trung tâm đó, Tòa án đã xác định chức năng chính của mình là xét xử để bảo vệ pháp luật, đảm bảo sự công bằng cho xã hội.
Do đó, Tòa án có TQXX các vụ án. Đây là chức năng đặc thù của Tòa án. Chỉ có Tòa án mới được thực hiện chức năng xét xử và đưa ra các phán quyết mang tính bắt buộc chung mà không có một cơ quan, tổ chức hoặc người có chức vụ quyền hạn nào có quyền thực hiện hoạt động đó. Từ các đặc điểm trên nên TQXX của Tòa án được xem là quyền xem xét quyết định trong hoạt động xét xử của Tòa án theo quy định của pháp luật.
TQXX của Tòa án bao gồm các quyền khác nhau của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án. Theo tính chất, có thể phân thẩm quyền của Tòa án thành TQXX về hình thức và TQXX về nội dung. Đây là hai yếu có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau một cách biện chứng tạo nên thẩm quyền của Tòa án. Theo đó: TQXX về hình thức là quyền xem xét và phạm vi xem xét (giới hạn của xét xử) của Tòa án [36, tr.
TQXX về nội dung là quyền hạn giải quyết, quyết định của Tòa án đối với những vấn đề được xem xét [36, tr. Để đảm bảo cho Tòa án thực hiện tốt chức năng xét xử, Nhà nước trao cho Tòa án nhiều quyền năng pháp lý. Đó là khả năng mà pháp luật cho phép Tòa án giải quyết các vụ án Hình sự, Dân sự, Kinh doanh – Thương mại, Lao động, Hành chính. Khi thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn trong thẩm quyền của mình, Tòa án có quyền đưa ra các phán quyết.
Các phán quyết của Tòa án được đảm bảo thi hành bằng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước. Tòa án được tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ nên việc phân định TQXX cũng có sự phụ thuộc. Theo đó, pháp luật tố tụng hình sự nước ta quy định: TAND cấp huyện và TAQS khu vực chỉ có TQXX sơ thẩm còn các TAND cấp tỉnh, TAQS cấp 6 quân khu vừa có TQXX sơ thẩm, vừa có TQXX phúc thẩm, và thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Đối với TAND tối cao và TAQS Trung ương thì chỉ có TQXX phúc thẩm và thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Việc quy định TQXX điều phải căn cứ vào một số dấu hiệu nhất định của vụ án. Thông thường, các nhà làm luật căn cứ vào nhiều nhóm dấu hiệu để phân định TQXX của Tòa án. Có thể tổng hợp các dấu hiệu đó thành những nhóm sau [24, tr.107]: - Nhóm những dấu hiệu thể hiện tính nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm: những dấu hiệu này được đánh giá ở cả hai góc độ của luật hình sự lẫn luật tố tụng hình sự. Theo nội dung nhóm dấu hiệu này cho thấy, tội phạm càng nghiêm trọng, càng phức tạp thì đòi hỏi cấp Tòa án và người xét xử phải có năng lực.
Nhóm dấu hiệu này còn gọi là TQXX theo việc. Dựa trên nhóm dấu hiệu này giúp chúng ta phân biệt thẩm quyền của TAND cấp huyện với TAND cấp tỉnh và TQXX của TAQS khu vực với TAQS cấp quân khu. - Nhóm những dấu hiệu về không gian liên quan đến việc thực hiện tội phạm: như địa điểm thực hiện tội phạm hay hành vi tố tụng. Nhóm dấu hiệu này còn gọi là TQXX theo lãnh thổ.
Dựa trên nhóm dấu hiệu này giúp chúng ta phân biệt TQXX của các Tòa án cùng cấp. - Nhóm những dấu hiệu liên quan đến người phạm tội: theo nhóm dấu hiệu này thì tùy theo người phạm tội là quân nhân hay dân thường mà phân biệt TQXX của TAQS hay TAND. Nhóm dấu hiệu này còn được gọi là TQXX theo đối tượng hay là TQXX theo người phạm tội. Dựa trên nhóm dấu hiệu này giúp chúng ta phân biệt TQXX giữa TAQS và TAND, giữa TAQS các cấp với nhau và xác định thẩm quyền của Tòa án đặc biệt.
Để xác định TQXX của Tòa án nói chung và TQXX của TAQS nói riêng bắt buộc chúng ta phải xác định đồng thời ba nhóm dấu hiệu nêu trên. Bởi vì, chỉ trên cơ sở xem xét kỹ từng nhóm dấu hiệu, mới có thể xác định TQXX được chính xác. Nếu bỏ qua một dấu hiệu nào mà không được xem xét tới thì có thể dẫn đến xét xử sai thẩm quyền, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự. Ngoài ra, để xác định TQXX của Tòa án theo các cấp xét xử khác như: xét xử 7 phúc thẩm, giải quyết vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm… cần phải căn cứ vào tính pháp lý của thủ tục xét xử đó.
Dựa trên các khái niệm về thẩm quyền, khái niệm về TQXX của Tòa án, các nhóm dấu hiệu để phân định TQXX vụ án hình sự trong tố tụng hình sự, TQXX hình sự của Tòa án có thể được hiểu như sau: TQXX về hình sự là quyền của Tòa án được xét xử vụ án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự trên cơ sở về tính nghiêm trọng của tội phạm được thực hiện, tính phức tạp của vụ án, không gian liên quan đến việc thực hiện tội phạm hoặc hành vi tố tụng hoặc đặc điểm nhân thân của người phạm tội. Theo quy định của Luật tổ chức TAND 2014, các TAQS được tổ chức trong Quân đội để xét xử những vụ án mà bị cáo là quân nhân tại ngũ và những vụ án khác theo quy định của luật. TAQS chính là một bộ phận của TAND được tổ chức trong Quân đội. Vì vậy, ngoài những nhiệm vụ như TAND là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; TAQS có nhiệm vụ quan trọng nhất là bảo vệ kỷ luật, sức mạnh chiến đấu và bí mật quân sự của Quân đội nhân dân Việt Nam.
BLTTHS năm 2015 quy định TAQS có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự khi người phạm tội thuộc sự quản lý, sử dụng của Quân đội là quân nhân tại ngủ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ trong Quân đội; vụ án hình sự mà người phạm tội không phải là người do Quân đội quản lý, sử dụng có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của quân nhân tại ngủ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu hoặc gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của Quân đội hoặc phạm tội trong doanh trại Quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ; TAQS có thẩm quyền xét xử tất cả tội phạm xảy ra trong địa bàn thiết quân luật. Đây là những dấu hiệu mang tính đặc trưng về thẩm quyền của TAQS và được quy định riêng tại Điều 272 BLTTHS năm 2015.