Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Thẩm quyền giải quyết yêu cầu dân sự của Tòa án nhân dân cấp huyện" do sinh viên Nguyễn Lê Minh Đức thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Phan Thanh Dương tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2024). Đề tài thuộc chuyên ngành Luật Tố tụng Dân sự, Khoa Pháp luật Dân sự.

Lý do chọn đề tài xuất phát từ bối cảnh thực tiễn của công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau hơn 35 năm đổi mới và hơn 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991, bổ sung và phát triển năm 2011). Sự phát triển kinh tế thị trường, quá trình hội nhập quốc tế cùng tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã làm gia tăng tính đa dạng, phức tạp của các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ dân sự nói riêng. Điều này kéo theo sự gia tăng về số lượng các vụ việc dân sự, đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế giải quyết của hệ thống Tòa án nhân dân nhằm bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo định hướng đến năm 2030. Trong hệ thống Tòa án bốn cấp, Tòa án nhân dân cấp huyện là cơ quan tư pháp ở cấp cơ sở, trực tiếp tiếp nhận và thụ lý phần lớn các việc dân sự. Việc nắm vững và áp dụng chuẩn xác thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án cấp huyện có ý nghĩa quyết định đến chất lượng bảo vệ công lý và quyền lợi hợp pháp của đương sự.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể qua ba nhiệm vụ:

  1. Phân tích làm rõ nhận thức và những vấn đề lý luận về thẩm quyền giải quyết yêu cầu dân sự của Tòa án nhân dân cấp huyện trong tố tụng dân sự.
  2. Đánh giá thực trạng pháp luật thực định và thực tiễn thi hành pháp luật về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện trong việc giải quyết các yêu cầu dân sự; từ đó chỉ ra những hạn chế, bất cập của hệ thống quy phạm cũng như các vướng mắc phát sinh trong thực tiễn áp dụng giai đoạn 2019–2023.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật tố tụng dân sự và bảo đảm hiệu quả áp dụng pháp luật về thẩm quyền giải quyết yêu cầu dân sự của Tòa án nhân dân cấp huyện.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật tố tụng dân sự liên quan đến thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện trong việc giải quyết yêu cầu dân sự. Về phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu thẩm quyền giải quyết việc dân sự theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm các yêu cầu dân sự cụ thể quy định tại Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Khóa luận không nghiên cứu các tranh chấp dân sự (vụ án dân sự) và loại trừ các yêu cầu thuộc ba lĩnh vực chuyên biệt khác là Hôn nhân và gia đình, Kinh doanh thương mại, Lao động.
  • Phạm vi thời gian và không gian: Khóa luận khảo sát hệ thống quy định pháp luật thực định hiện hành tại Việt Nam (trọng tâm là Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Bộ luật Dân sự năm 2015) và thực tiễn áp dụng trong hệ thống Tòa án nhân dân cấp huyện trên cả nước qua số liệu thống kê giai đoạn 2019–2023.

Cơ sở pháp lý, lý luận và phương pháp nghiên cứu

Về mặt lý luận, khóa luận kế thừa và phát triển quan điểm từ các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý trước đó, bao gồm:

  • Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Hà (2005) về phân cấp thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự trong hệ thống Tòa án;
  • Luận văn thạc sĩ của tác giả Ngô Thị Thu Hương (2017) về thẩm quyền theo vụ việc của Tòa án nhân dân từ thực tiễn Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;
  • Các khóa luận tốt nghiệp tại Trường Đại học Luật Hà Nội của Nguyễn Thị Tố Loan (2009) về thẩm quyền theo lãnh thổ, Trần Quang Anh (2016) về thẩm quyền giải quyết tranh chấp;
  • Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường do TS. Trần Anh Tuấn làm chủ nhiệm (2010);
  • Các giáo trình chuyên khảo của Trường Đại học Luật Hà Nội (Giáo trình Luật Tố tụng dân sự 2021, Giáo trình Luật Tố tụng hình sự 2022, Giáo trình Luật Tố tụng hành chính 2014); các sách bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 do TS. Bùi Thị Huyền chủ biên (2016), PGS.TS. Trần Anh Tuấn chủ biên (2017); Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của PGS.TS. Nguyễn Văn Cừ và PGS.TS. Trần Thị Huệ (2017);
  • Các bài viết học thuật của Tưởng Duy Lương, Trần Văn Tuân (Tạp chí Kiểm sát, 2006), Nguyễn Thị Thu Hà và Vũ Hoàng Anh (Tạp chí Luật học, 2022).

Khung pháp lý được tác giả vận dụng làm căn cứ phân tích bao gồm:

  • Hiến pháp năm 2013 (Điều 102 về chức năng tư pháp của Tòa án);
  • Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 (Điều 3 về mô hình tổ chức hệ thống Tòa án);
  • Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (các Điều 1, 5, 27, 35, 36, 37, 39, 40, 68, 311, 361, 362, 370, 376, 381, 387, 391, 416, 417, 470) và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011);
  • Bộ luật Dân sự năm 2015 (các Điều 16, 22, 23, 24, 30, 228);
  • Các luật chuyên ngành khác liên quan: Luật Công chứng năm 2014 (Điều 52), Luật Cư trú năm 2020 (Điều 9), Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 (Điều 7), Luật Thi hành án dân sự.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý:

  • Phương pháp liệt kê, phân tích lý luận và tổng hợp (sử dụng chủ yếu tại Chương 1): Dùng để trích dẫn các quan điểm học thuật, phân tích các khái niệm pháp lý về yêu cầu dân sự, việc dân sự, thẩm quyền tư pháp; tổng hợp các quy định pháp luật thực định nhằm làm sáng tỏ các đặc điểm và cơ sở phân định thẩm quyền.
  • Phương pháp thống kê, so sánh và đánh giá thực tiễn (sử dụng chủ yếu tại Chương 2): Thống kê số liệu công tác thụ lý, xét xử của Tòa án nhân dân tối cao giai đoạn 2019–2023; so sánh quy định giữa Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004; phân tích hồ sơ vụ việc cụ thể để đối chiếu giữa lý luận quy định và thực tiễn áp dụng.

Nguồn dữ liệu thực tế được khai thác từ Báo cáo tổng kết công tác xét xử của Tòa án nhân dân tối cao (các kỳ 2020–2021 và 2021–2022), các số liệu thống kê nghiệp vụ chuyên đề về giải quyết việc dân sự, và hồ sơ vụ việc dân sự phúc thẩm số 09/2023/TLPT-VDS của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định (liên quan đến Quyết định sơ thẩm số 122/2023/QĐST-DS của Tòa án nhân dân huyện H).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về thẩm quyền giải quyết yêu cầu dân sự của Tòa án nhân dân cấp huyện

Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận và rà soát hệ thống quy phạm pháp luật thực định điều chỉnh thẩm quyền của Tòa án cấp huyện đối với các yêu cầu dân sự, chia thành ba nhóm nội dung trọng tâm:

  1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của thẩm quyền giải quyết yêu cầu dân sự:

    • Khái niệm: Tác giả chỉ rõ lịch sử lập pháp tố tụng dân sự Việt Nam trước đây không phân biệt rạch ròi giữa "vụ án dân sự" và "việc dân sự" (đều gọi chung là vụ án dân sự). Thuật ngữ "việc dân sự" lần đầu tiên được định nghĩa chính thức tại Điều 311 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và được kế thừa tại Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo đó, việc dân sự phát sinh khi cơ quan, tổ chức, cá nhân không có tranh chấp nhưng yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý, hoặc công nhận cho mình quyền về dân sự. Yêu cầu dân sự (theo nghĩa hẹp) là tiền đề phát sinh việc dân sự trong quan hệ pháp luật dân sự thuần túy. Thẩm quyền giải quyết yêu cầu dân sự của Tòa án nhân dân cấp huyện là tổng hợp các quyền năng do pháp luật tố tụng dân sự quy định cho Tòa án cấp huyện trong việc thụ lý, xem xét và ra quyết định đối với các yêu cầu này.
    • Đặc điểm: Thẩm quyền này mang ba đặc điểm chung của tố tụng việc dân sự: (i) Chỉ phát sinh khi có đơn yêu cầu của đương sự và bị giới hạn nghiêm ngặt trong phạm vi yêu cầu (Tòa án không tự ý phát động thủ tục tố tụng và không ra quyết định vượt quá yêu cầu, trừ trường hợp luật định); (ii) Chịu sự chi phối bởi quyền tự định đoạt và sự lựa chọn của đương sự (theo Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015); (iii) Căn cứ pháp lý hoàn toàn dựa trên pháp luật tố tụng dân sự. Ngoài ra, thẩm quyền của cấp huyện mang đặc điểm riêng biệt nhằm phân cấp với cấp tỉnh: Tòa án cấp huyện thụ lý hầu hết các việc dân sự sơ thẩm, trừ những vụ việc có yếu tố nước ngoài (đương sự, tài sản ở nước ngoài hoặc cần ủy thác tư pháp ra nước ngoài) thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh theo Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
    • Ý nghĩa: Quy định phân định rõ thẩm quyền tạo hành lang pháp lý giúp Tòa án tiếp nhận, thụ lý chuẩn xác, tránh tình trạng tranh chấp thẩm quyền giữa các Tòa án cùng cấp hoặc xung đột chức năng với các cơ quan hành chính; đồng thời là căn cứ bảo đảm quyền tiếp cận công lý của công dân, giúp người dân gửi đơn đúng địa chỉ cơ quan tài phán, tiết kiệm thời gian và chi phí.
  2. Cơ sở xác định thẩm quyền của Tòa án cấp huyện:

    • Cơ sở theo loại việc: Xuất phát từ chức năng bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân theo Điều 102 Hiến pháp năm 2013; đặc thù của quan hệ dân sự dựa trên nguyên tắc tự do, bình đẳng, tự nguyện cam kết; và mục tiêu bảo vệ các đối tượng yếu thế (phụ nữ, trẻ em). Mọi quan hệ pháp luật nội dung dân sự phát sinh yêu cầu công nhận sự kiện pháp lý mà không có tranh chấp đều thuộc loại việc giải quyết theo thủ tục việc dân sự tại Tòa án (trừ trường hợp luật trao cho cơ quan khác).
    • Cơ sở theo cấp Tòa án: Căn cứ vào cơ cấu tổ chức Tòa án bốn cấp theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 (chỉ có TAND cấp huyện và TAND cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử sơ thẩm); căn cứ vào trình độ chuyên môn, năng lực giải quyết của đội ngũ Thẩm phán; và căn cứ vào tính chất phức tạp của từng loại việc cụ thể (các việc phức tạp, có đương sự/tài sản ở nước ngoài do cấp tỉnh giải quyết).
    • Cơ sở theo lãnh thổ: Thiết lập dựa trên nguyên tắc tạo điều kiện thuận lợi nhất cho đương sự tham gia tố tụng và thuận lợi cho Tòa án trong việc thu thập chứng cứ, xác minh tình tiết và thi hành quyết định.
  3. Thực trạng quy định pháp luật hiện hành:

    • Theo loại việc (Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015): Bao gồm các nhóm việc chính: (1) Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (tác giả chỉ ra điểm bất cập tại Điều 370 khi quy định chính người bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự lại có quyền tự mình yêu cầu hủy bỏ quyết định); (2) Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú từ 06 tháng trở lên và quản lý tài sản của người đó (Điều 381); (3) Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích (Điều 387); (4) Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết (Điều 391); (5) Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu khi có sai phạm theo Luật Công chứng (Điều 362); (6) Yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án (Điều 416, Điều 417); (7) Yêu cầu công nhận tài sản vô chủ trên lãnh thổ Việt Nam (Điều 228 Bộ luật Dân sự, Điều 470); (8) Yêu cầu phân chia tài sản chung để thi hành án theo Luật Thi hành án dân sự (tác giả nêu khó khăn khi Chấp hành viên thiếu tư cách tố tụng rõ ràng và việc chứng minh tài sản chung phức tạp); (9) Các yêu cầu dân sự dự phòng khác quy định tại khoản 10 Điều 27.
    • Theo cấp xét xử (Điều 35, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015): TAND cấp huyện có thẩm quyền sơ thẩm đối với các yêu cầu quy định tại Điều 27, loại trừ các yêu cầu có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, hoặc cần ủy thác tư pháp ra nước ngoài (thuộc thẩm quyền TAND cấp tỉnh).
    • Theo lãnh thổ và sự lựa chọn của đương sự (Điều 39, Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015): Thẩm quyền theo lãnh thổ được phân loại theo nơi cư trú/làm việc/trụ sở của người bị yêu cầu; nơi người yêu cầu cư trú/làm việc (trong trường hợp yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố mất NLHVDS, mất tích, đã chết); nơi đặt trụ sở tổ chức công chứng hoặc cơ quan thi hành án; nơi có tài sản. Điều 40 ghi nhận quyền lựa chọn Tòa án của người yêu cầu trong các trường hợp luật định.

Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật tố tụng dân sự về thẩm quyền Tòa án nhân dân cấp huyện trong việc giải quyết các yêu cầu dân sự và một số kiến nghị

Chương 2 phân tích bức tranh thực tiễn áp dụng pháp luật tại hệ thống Tòa án nhân dân cấp huyện, chỉ rõ các thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp:

  1. Kết quả đạt được (giai đoạn 2019–2023):

    • TAND các cấp cơ bản xác định chuẩn xác thẩm quyền, giảm tình trạng trả lại đơn hoặc chuyển giao hồ sơ qua lại giữa các cấp, bảo đảm quyền tiếp cận công lý của công dân.
    • Nhờ hướng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án (Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành 03 Thông tư, 01 tập Giải đáp nghiệp vụ, ấn phẩm chuyên đề Thông tin khoa học xét xử), hiệu quả giải quyết việc dân sự tăng cao.
    • Khóa luận dẫn chứng các số liệu thống kê nghiệp vụ:
      • Giai đoạn 01/10/2020 – 30/09/2021: Tòa án các cấp thụ lý 537.577 vụ việc, giải quyết 436.660 vụ việc (đạt tỷ lệ 81,2%); thụ lý giảm 64.675 vụ việc và giải quyết giảm 107.044 vụ việc do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19; tỷ lệ bản án/quyết định bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan là 0,81% (giảm 0,25%). Trong đó, đã giải quyết và công bố 4.236 yêu cầu dân sự (chiếm 0,97% tổng số vụ việc giải quyết).
      • Giai đoạn tiếp theo (2021–2022): Số lượng vụ việc tăng gần 6% so với năm trước. Tổng số vụ việc giải quyết đạt 504.521 vụ việc (tăng 68.xxx vụ việc so với năm 2021). Riêng về yêu cầu dân sự, Tòa án đã giải quyết và công bố 5.269 việc (chiếm tỷ lệ 1,04% tổng số vụ việc giải quyết, tăng 24,3% so với cùng kỳ).
      • Đáng chú ý, số yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố mất, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi tăng đột biến: từ 653 việc lên 2.014 việc (tăng 208,4%). Thống kê trung bình cho thấy nhóm việc liên quan đến năng lực hành vi dân sự này chiếm hơn 40% tổng số việc dân sự mà TAND cấp huyện thụ lý, giải quyết hàng năm. Phần lớn các quyết định sơ thẩm của cấp huyện đều có hiệu lực thi hành ngay, tỷ lệ bị kháng cáo, kháng nghị rất thấp.
  2. Những hạn chế, bất cập trong thực tiễn áp dụng:

    • Tồn tại tình trạng Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng chưa đúng quy định pháp luật dân sự và tố tụng dân sự trong việc xác định thời điểm pháp lý và tình tiết giải quyết.
    • Phân tích án điểm thực tế: Khóa luận trích dẫn hồ sơ việc dân sự phúc thẩm số 09/2023/TLPT-VDS ngày 16/10/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định (theo Quyết định mở phiên họp số 11/2023/QĐPT-VDS ngày 23/10/2023, mở ngày 28/11/2023). Vụ việc bắt nguồn từ yêu cầu của chị Vũ Thị H yêu cầu tuyên bố chồng là anh Hoàng Văn K (sinh năm 1975, nơi cư trú cuối cùng tại xóm T, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định) là đã chết. Anh K đi làm thuê trên tàu chở hàng biển và mất liên lạc từ giữa tháng 12/2013, biệt tích hơn 09 năm. Tòa án nhân dân huyện H đã thông báo tìm kiếm theo luật định trên các phương tiện truyền thông nhưng không có tin tức. Tại Quyết định sơ thẩm số 122/2023/QĐST-DS ngày 08/8/2023, TAND huyện H tuyên bố anh K đã chết nhưng lại xác định thời điểm anh K chết là ngày "02 tháng 12 năm 2018". Do xác định mốc thời gian chết không chuẩn xác theo quy định của pháp luật dân sự, ngày 16/8/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã ban hành Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-HH để kháng nghị một phần quyết định sơ thẩm nêu trên.
    • Bất cập về yêu cầu thi hành án: Khi Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định quyền sở hữu, phân chia tài sản chung của người phải thi hành án theo Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, pháp luật hiện chưa quy định rõ Chấp hành viên tham gia tố tụng với tư cách gì (khoản 2, khoản 5 Điều 68 không quy định Chấp hành viên là nguyên đơn, người yêu cầu hay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan), gây lúng túng trong thực tiễn thụ lý và kéo dài thời gian thi hành án.
  3. Kiến nghị của tác giả:

    • Hoàn thiện quy định pháp luật: Sửa đổi quy định tại Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 theo hướng quy định quyền yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự phải được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan, thay vì cho phép chính người đang bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự tự nộp đơn. Đồng thời, cần ban hành văn bản hướng dẫn xác định rõ tư cách tố tụng của Chấp hành viên và trình tự thủ tục xử lý việc yêu cầu phân chia tài sản chung thi hành án.
    • Nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật: Tăng cường công tác tập huấn, thống nhất cách hiểu và áp dụng các quy phạm pháp luật nội dung và tố tụng cho đội ngũ Thẩm phán, Thư ký Tòa án nhân dân cấp huyện nhằm giảm thiểu sai sót nghiệp vụ khi ban hành các quyết định tuyên bố sự kiện pháp lý.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp toàn diện các chỉ số thực tiễn trong công tác giải quyết việc dân sự của ngành Tòa án qua bảng số liệu sau:

Chỉ số / Tiêu chí đánh giá Giai đoạn 2020 – 2021 Giai đoạn tiếp theo (2021 – 2022) Mức độ biến động / Đặc điểm
Tổng số vụ việc Tòa án thụ lý 537.577 vụ việc 534.465 vụ việc (ước tính từ số giải quyết) Thụ lý năm 2020-2021 giảm 64.675 vụ việc do Covid-19; năm sau tăng 29.944 vụ
Tổng số vụ việc đã giải quyết 436.660 vụ việc (đạt 81,2%) 504.521 vụ việc Năm 2021-2022 số giải quyết tăng 68.xxx vụ việc
Số yêu cầu dân sự đã giải quyết và công bố 4.236 yêu cầu 5.269 yêu cầu Tăng 24,3% (tương ứng tăng thêm 1.033 việc)
Tỷ trọng việc dân sự trên tổng số việc giải quyết 0,97% 1,04% Duy trì tỷ trọng xấp xỉ 1% tổng án thụ lý, giải quyết
Số việc về năng lực hành vi dân sự giải quyết 653 yêu cầu 2.014 yêu cầu Tăng đột biến 208,4% (tăng thêm 1.361 việc)
Tỷ lệ việc năng lực hành vi dân sự tại TAND cấp huyện > 40% tổng số việc dân sự > 40% tổng số việc dân sự Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các việc dân sự cấp huyện
Tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy/sửa do lỗi chủ quan 0,81% (giảm 0,25%) Đáp ứng chỉ tiêu Quốc hội giao Tỷ lệ kháng cáo, kháng nghị việc dân sự rất thấp

Các giải pháp và kiến nghị cốt lõi mà tác giả đưa ra:

  • Kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Bãi bỏ quy định cho phép người đã bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự tự mình nộp đơn yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định đó, mà phải bắt buộc thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan.
  • Kiến nghị hoàn thiện cơ chế giải quyết yêu cầu phân chia tài sản chung của Chấp hành viên: Ban hành văn bản hướng dẫn nghiệp vụ xác định rõ tư cách tố tụng của Chấp hành viên theo khoản 2, 5 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và thiết lập trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ, định giá tài sản thi hành án.

Về đóng góp học thuật, công trình là nghiên cứu chuyên khảo có tính hệ thống về thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tác giả đã phân biệt rạch ròi bản chất phi tranh chấp của việc dân sự so với vụ án dân sự; làm sáng tỏ các cơ sở xác định thẩm quyền theo loại việc, cấp xét xử và lãnh thổ; đồng thời kết hợp đánh giá thực chứng từ dữ liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao và các vụ việc thực tế để chỉ ra khoảng cách giữa quy định pháp luật và thực tiễn xét xử.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài được xác định trực tiếp dựa trên phạm vi nghiên cứu do tác giả lựa chọn:

  • Khóa luận chỉ giới hạn khảo sát các yêu cầu dân sự thuần túy theo nghĩa hẹp tại Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; chưa mở rộng đánh giá thẩm quyền của Tòa án cấp huyện đối với các việc dân sự chuyên biệt thuộc lĩnh vực Hôn nhân và gia đình (như công nhận thuận tình ly hôn), Kinh doanh thương mại, và Lao động.
  • Dữ liệu thực tiễn và án lệ tuy có số liệu thống kê toàn ngành của TAND tối cao nhưng phần phân tích hồ sơ thực tế chỉ tập trung vào một số địa hạt cụ thể (như tỉnh Nam Định) và phân tích sâu một số dạng việc điển hình (tuyên bố một người là đã chết, phân chia tài sản thi hành án), chưa thể bao quát toàn diện sai sót nghiệp vụ tại tất cả các Tòa án nhân dân cấp huyện trên toàn quốc.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể phát triển từ đề tài bao gồm:

  • Mở rộng nghiên cứu so sánh thẩm quyền giải quyết các việc về Hôn nhân và gia đình, Kinh doanh thương mại, Lao động của Tòa án nhân dân cấp huyện;
  • Nghiên cứu cơ chế phân định thẩm quyền và thủ tục ủy thác tư pháp khi giải quyết các yêu cầu dân sự có yếu tố nước ngoài trong bối cảnh sửa đổi Luật Tổ chức Tòa án nhân dân;
  • Nghiên cứu tác động của việc ứng dụng tố tụng điện tử và nộp đơn yêu cầu trực tuyến đối với thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ của Tòa án cấp cơ sở.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tư liệu hữu ích phục vụ học tập, nghiên cứu và công tác thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Giảng viên và sinh viên ngành Luật: Cung cấp hệ thống luận điểm lý luận rõ ràng để phân biệt giữa vụ án dân sự và việc dân sự; phân tích chi tiết bản chất 9 nhóm việc dân sự thuộc thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án theo Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Thẩm phán, Thư ký Tòa án nhân dân cấp huyện: Tài liệu tham khảo hữu ích trong việc tra cứu thẩm quyền theo cấp và thẩm quyền theo lãnh thổ, tránh sai sót khi thụ lý vụ việc có yếu tố nước ngoài hoặc xác định sai mốc thời gian sự kiện pháp lý (như vụ việc tuyên bố một người đã chết tại TAND huyện H, tỉnh Nam Định).
  • Chấp hành viên và cơ quan Thi hành án dân sự: Cung cấp góc nhìn phân tích pháp lý về các rào cản và vướng mắc khi thực hiện quyền yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung để thi hành án.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân biệt sự khác nhau cốt lõi giữa "vụ án dân sự" và "việc dân sự" dựa trên những tiêu chí nào?
Dựa trên quy định tại Điều 311 BLTTDS 2004 và Điều 361 BLTTDS 2015, tác giả chỉ ra điểm khác biệt cốt lõi: Vụ án dân sự phát sinh khi có tranh chấp, xung đột quyền và lợi ích giữa các bên đương sự, đòi hỏi Tòa án phải giải quyết mâu thuẫn để bảo vệ quyền lợi hợp pháp; trong khi đó, việc dân sự là trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân hoàn toàn không có tranh chấp nhưng yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hoặc công nhận quyền dân sự cho mình.

2. Điểm bất hợp lý trong quy định tại Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được khóa luận chỉ ra là gì?
Điều 370 cho phép chính người bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi của chính mình. Khóa luận khẳng định quy định này mâu thuẫn về mặt logic pháp lý, bởi khi quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì cá nhân đó đã mất năng lực hành vi tố tụng dân sự; việc họ đã thực sự khỏi bệnh hay chưa phải được xác định lại. Do đó, quyền yêu cầu này bắt buộc phải được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan.

3. Nhóm yêu cầu dân sự nào chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các việc dân sự được Tòa án nhân dân cấp huyện thụ lý hàng năm?
Theo số liệu thống kê nêu trong khóa luận, nhóm yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi chiếm tỷ trọng lớn nhất, chiếm hơn 40% tổng số việc dân sự mà TAND cấp huyện thụ lý, giải quyết mỗi năm. Trong giai đoạn 2021–2022, số lượng yêu cầu thuộc nhóm này đã tăng đột biến 208,4% (từ 653 việc lên 2.014 việc).

4. Vì sao Viện kiểm sát nhân dân huyện H (tỉnh Nam Định) kháng nghị đối với Quyết định sơ thẩm số 122/2023/QĐST-DS của Tòa án nhân dân huyện H?
Trong vụ việc giải quyết yêu cầu của chị Vũ Thị H, TAND huyện H chấp nhận tuyên bố anh Hoàng Văn K (biệt tích từ giữa tháng 12/2013 trên tàu chở hàng) là đã chết. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm lại xác định thời điểm anh K chết là ngày "02 tháng 12 năm 2018". Do việc xác định mốc thời gian chết này không đúng quy định của pháp luật dân sự về căn cứ tuyên bố một người đã chết, ngày 16/8/2023, VKSND huyện H đã ban hành Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-HH kháng nghị một phần quyết định sơ thẩm để Tòa án cấp tỉnh xét xử phúc thẩm lại.

5. Khóa luận chỉ ra vướng mắc lớn nhất khi Chấp hành viên yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung để thi hành án là gì?
Vướng mắc lớn nhất gồm hai điểm: Thứ nhất, tư cách tố tụng của Chấp hành viên không thể xác định là nguyên đơn, người yêu cầu hay người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 68 BLTTDS 2015 vì Chấp hành viên không bị xâm phạm quyền lợi cá nhân và cũng không khởi kiện vì lợi ích công cộng thuần túy. Thứ hai, Chấp hành viên gặp trở ngại rất lớn trong việc thu thập chứng cứ chứng minh phần quyền sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung khi đương sự có tư tưởng chống đối, dẫn đến vụ việc bị kéo dài.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Lê Minh Đức đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và pháp lý thực định về thẩm quyền giải quyết yêu cầu dân sự của Tòa án nhân dân cấp huyện theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Thông qua các số liệu thống kê nghiệp vụ toàn quốc giai đoạn 2019–2023 và phân tích hồ sơ vụ việc thực tế, tác giả đã phản ánh trung thực kết quả đạt được cũng như chỉ rõ các hạn chế, vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật tại cấp cơ sở. Những phát hiện bất cập về tư cách tố tụng của Chấp hành viên và quyền yêu cầu hủy bỏ quyết định mất năng lực hành vi dân sự cùng hệ thống giải pháp đề xuất có giá trị thực tiễn phục vụ định hướng tiếp tục hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.