Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về ly hôn có yếu tố nước ngoài và thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài; Chương 2: Thực trạng các quy định về thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài của pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 3: Thực tiễn giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI VÀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI 1.1 Khái niệm ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài và đặc điểm điều chỉnh pháp lý quan hệ ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài 1.1 Khái niệm ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài: Hôn nhân là hiện tượng xã hội, là sự liên kết giữa một người nam và một người nữ trên nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng, tự nguyện nhằm xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc, bền vững. Tại khoản 6, Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010 giải thích: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn”. Nhưng trên thực tế không phải cuộc hôn nhân nào cũng hạnh phúc, bền vững.
Trong một số trường hợp sau kết hôn là ly hôn. Ly hôn mang bản chất xã hội và tính giai cấp sâu sắc. “Pháp luật của nhà nước phong kiến, tư sản thường quy định hoặc là cấm vợ chồng ly hôn hoặc đặt ra các điều kiện hạn chế quyền ly hôn của vợ chồng, hoặc quy định giải quyết ly hôn dựa trên cơ sở lỗi của vợ chồng” [36, trg 250]. Ly hôn cũng là một vấn đề nhạy cảm thể hiện sự xung đột giữa các nền văn hóa, bởi vì ly hôn khiến cho chúng ta nhìn nhận lại một vấn đề cơ bản đối với một số quốc gia đó là vấn đề bình đẳng nam nữ.
Đặc biệt, pháp luật của các nước hồi giáo, vốn dựa trên tư tưởng trọng nam khinh nữ còn cho phép người chồng được đơn phương chấm dứt hôn nhân. Ngày nay, quan niệm truyền thống về ly hôn dần thay đổi: ly hôn không còn bị coi là một tội lỗi. “Theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, quyền yêu cầu ly hôn nhằm chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật là quyền nhân thân gắn liền với nhân thân của vợ chồng; chỉ có vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng mới có quyền yêu cầu ly hôn; và cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét xử ly hôn là Tòa án nhân dân” [36, trg 251]. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Lênin: “Thực ra tự do ly hôn tuyệt không có nghĩa là làm “tan rã” những mối liên hệ gia đình mà ngược lại, nó củng cố những mối liên hệ đó trên những cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong xã hội văn minh” [49, trg 335].
Trong xã hội dân chủ văn minh, tự do ly hôn là quyền chính đáng, bình đẳng giữa vợ chồng và được pháp luật tôn trọng. Lênin đã khẳng định: Người ta không thể là một người dân chủ và xã hội chủ nghĩa nếu ngay từ bây giờ không đòi quyền hoàn toàn tự do ly hôn, vì thiếu quyền tự do ấy là một sự ức hiếp lớn đối với giới bị áp bức, đối với phụ nữ. Tuy hoàn toàn chẳng khó khăn gì mà không hiểu được rằng khi ta thừa nhận cho phụ nữ tự do bỏ chồng thì không phải là ta khuyên tất cả họ bỏ chồng. Nhà nước xã hội chủ nghĩa đảm bảo quyền tự do ly hôn khi quan hệ hôn nhân thực chất không còn tồn tại.
Theo pháp luật Việt Nam, cơ sở pháp lý để chấm dứt một quan hệ hôn nhân bằng việc ly hôn là một bản án hoặc quyết định của Tòa án. Điều 42 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn”; hoặc theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 sửa đổi, bổ sung năm 2010 thì: “ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng”. Tóm lại, ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân trước pháp luật trên cơ sở tự nguyện của ít nhất một bên chủ thể hay cả hai bên (trong trường hợp thuận tình ly hôn). Ly hôn có yếu tố nước ngoài đã được quy định trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 (Quốc hội thông qua ngày 29/12/1986 có hiệu lực thi hành từ ngày 03/01/1987).
Tuy nhiên, trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã không quy định như thế nào là ly hôn có yếu tố nước ngoài và cũng không quy định Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài theo thủ tục sơ thẩm, trình tự thủ tục giải quyết tại Tòa án cấp sơ thẩm là như thế nào?. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tại Thông tư liên ngành số 06/TTLN ngày 30/12/1986 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp đã hướng dẫn về thẩm quyền xét xử theo thủ tục sơ thẩm là Tòa án nhân dân cấp tỉnh và hướng dẫn về thủ tục trong quá trình giải quyết vụ án. Theo đó, Tòa án nhân dân tối cao còn có nhiều văn bản hướng dẫn về thủ tục giải quyết. Trong Luật Hôn nhân và gia đình được Quốc hội thông qua ngày 09/6/2000 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2001 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2010 đã có nhiều quy định về ly hôn có yếu tố nước ngoài và Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũng đã ra Nghị quyết hướng dẫn về ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Theo đó, vấn đề đặt ra là như thế nào là có yếu tố nước ngoài? Vì trong Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình chỉ quy định chung là có yếu tố nước ngoài mà không quy định rõ có yếu tố nước ngoài là như thế nào. Về vấn đề này, tại khoản 14 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi, bổ sung năm 2010 giải thích như sau: “Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình: a, Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài; b, Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam. c, Giữa công dân Việt Nam với nhau mà có căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”. Như vậy, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 sủa đổi, bổ sung năm 2010 lần đầu tiên đưa ra khái niệm “quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài”.
Theo sự giải thích này, vấn đề đặt ra người nước ngoài là người nào? Theo Điều 9 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định việc thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có yếu tố nước ngoài đã giải thích về người nước ngoài như sau: “1. Người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam bao gồm: công dân nước ngoài và người không quốc tịch. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Người nước ngoài thường trú tại Việt Nam là công dân nước ngoài và người không quốc tịch cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam.
Công dân nước ngoài là người có quốc tịch nước ngoài, quốc tịch nước ngoài là quốc tịch của một nước khác không phải là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài”. Ly hôn là một quan hệ đặc biệt, rất phức tạp trong số các quan hệ về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Chiểu theo các quy định trên, yếu tố nước ngoài trong quan hệ ly hôn được thể hiện ở một trong ba yếu tố sau: Chủ thể là người nước ngoài; hoặc sự kiện pháp lý xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài; hoặc tài sản có liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.
Cụ thể: Về chủ thể: có ít nhất một bên chủ thể là người nước ngoài. Theo sự trích dẫn trên thì người nước ngoài là người không có quốc tịch của nước nơi mà họ đang cư trú. Quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài có thể xảy ra trong các trường hợp: - Giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài (giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài; giữa công dân Việt Nam với người không quốc tịch); - Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam (người nước ngoài thường trú tại Việt Nam là công dân nước ngoài và người không quốc tịch cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam). - Hoặc giữa công dân Việt Nam với nhau mà có căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài.
Ở đây, yếu tố chủ thể có ít nhất một bên chủ thể là người nước ngoài không đặt ra mà chỉ xem xét về căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài giữa các chủ thể là công dân Việt Nam với nhau. Việc thừa nhận hệ quả pháp lý trong việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với nhau mà có căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài là một đòi hỏi tất yếu khách quan, phù hợp xu hướng hội nhập quốc tế và hơn hết đó là bảo vệ kịp thời 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tuy nhiên, việc thừa nhận hệ quả pháp lý này không phải ở tất cả các trường hợp. Ví dụ, nếu việc kết hôn đó trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam như vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, hoặc cố ý lẩn tránh pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn và những trường hợp cấm kết hôn, hoặc đương sự không hoàn tất thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự, thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký.