Tổng quan luận án

Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Ngữ văn với đề tài "Những vấn đề thẩm mỹ - đạo lý - xã hội trong kịch bản tuồng cổ viết về đề tài quân quốc" do nghiên cứu sinh Nguyễn Xuân Yến thực hiện tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội vào năm 1993, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Bùi Duy Tân, thuộc chuyên ngành Văn học dân gian (mã số 50407).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Tuồng là loại hình nghệ thuật sân khấu cổ truyền của dân tộc Việt Nam, lưu truyền hàng trăm vở qua nhiều thế kỷ. Trong cấu trúc tổng thể của nghệ thuật sân khấu, kịch bản văn học giữ vai trò là thành phần ngôn từ cố định, là tiền đề xuất phát điểm cho các thành phần nghệ thuật khác cùng phối hợp sáng tạo như đạo diễn dàn dựng, âm nhạc, hội họa và nghệ thuật biểu diễn (được dân gian đúc kết qua quan niệm "có tích mới dịch ra trò" hoặc "tích nào thì trò đó"). Trong đó, mảng kịch bản viết về đề tài quân quốc chiếm ưu thế về số lượng và tập trung nhiều tác phẩm đạt tới trình độ mẫu mực cổ điển.

Tuy nhiên, trước thời điểm luận án thực hiện, phần lớn các công trình nghiên cứu về tuồng và chèo chủ yếu thu hẹp trong phạm vi sân khấu, chú trọng kỹ thuật biểu diễn mà chưa quan tâm đầy đủ đến mặt văn bản kịch bản như một tác phẩm văn học trung đại. Việc thiếu vắng các công trình khảo sát hệ thống về kịch bản tuồng quân quốc trên bình diện văn học dẫn đến nguy cơ thu hẹp giá trị thẩm mỹ của thể loại. Đồng thời, trước yêu cầu cấp bách về bảo tồn và cách tân kịch bản sân khấu cổ truyền, thực tế đòi hỏi phải xác lập cơ sở khoa học để nhận diện chính xác các giá trị tinh hoa cần bảo vệ và loại bỏ những yếu tố lạc hậu, tránh khuynh hướng nệ cổ hoặc cách tân mò mẫm.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Khảo sát và xác định vị trí của kịch bản văn học tuồng cổ viết về đề tài quân quốc trên bình diện một tác phẩm văn học trung đại.
  2. Phân tích các đặc trưng thi pháp và giá trị thẩm mỹ của kịch bản tuồng quân quốc trong việc khắc họa hình tượng người anh hùng và phương thức phản ánh hiện thực.
  3. Làm sáng tỏ hệ thống đạo lý trong tuồng quân quốc, chứng minh sự dung hợp giữa đạo lý Nho gia với truyền thống đạo đức nhân bản của dân tộc.
  4. Phân tích cơ sở lịch sử - xã hội Việt Nam thế kỷ XVI - XVIII đối với sự ra đời của tuồng quân quốc và sự tiếp nhận của các tầng lớp công chúng khán giả.
  5. Đề xuất hệ tiêu chí phân loại thể loại tuồng và xác lập luận cứ khoa học phục vụ công tác bảo tồn, cách tân nghệ thuật tuồng cùng việc biên soạn tài liệu giảng dạy.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Kịch bản văn học tuồng cổ viết về đề tài quân quốc, tập trung vào mối quan hệ giữa Vua và Nước (Quân và Quốc), miêu tả cuộc đấu tranh giữa phe trung và phe nịnh để bảo vệ vương quyền chính thống. Các tác phẩm tiêu biểu gồm có: Sơn Hậu, Tam nữ đồ vương, Triệu Đình Long (tức Dương Chấn Tử), Đào Phi Phụng, An trào kiếm, Võ Hùng Vương...
  • Phạm vi không gian và thời gian: Trọng tâm nghiên cứu là các kịch bản tuồng quân quốc ra đời trước triều Nguyễn, xuất hiện chủ yếu tại vùng đất Đàng Trong từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII. Để làm rõ tiến trình phát triển, luận án mở rộng khảo sát so sánh với các vở tuồng quân quốc và thế sự dưới triều Nguyễn (Trầm hương các, Hoàng Phi Hổ phản Trụ đầu Chu, Tỳ Can dâng gan, Trảm Trịnh Ân, Hộ sinh đàn, Diễn võ đình...) cùng các vở tuồng cận đại đầu thế kỷ XX.
  • Phạm vi tiếp cận tư liệu: Khảo sát các văn bản kịch bản cổ nhất đã được công bố trên sách báo, các tập kịch bản của Viện Sân khấu, Cục Nghệ thuật sân khấu và các bản diễn chính thức tại các Nhà hát Tuồng chuyên nghiệp.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Tác giả luận án đã hệ thống hóa các nguồn tư liệu và công trình nghiên cứu lịch sử sân khấu theo các nhóm vấn đề:

  1. Ghi chép trong thư tịch lịch sử cổ: Các bộ sử như Đại Việt sử ký toàn thư (Ngô Sĩ Liên), Đại Việt sử lược, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Kiến văn tiểu lục (Lê Quý Đôn), Vũ trung tùy bút (Phạm Đình Hổ) ghi nhận sự kiện Lý Nguyên Cát thời Trần cùng các sinh hoạt ca múa nhạc, diễn xướng cung đình thời Lý - Trần.
  2. Quan điểm về nguồn gốc du nhập từ Trung Quốc: Đoàn Nồng (Sự tích và nghệ thuật hát Bộ), Trần Trọng Kim (Việt Nam sử lược), Đào Duy Anh (Việt Nam văn hóa sử cương), G. Cordier (Sân khấu An Nam), nhóm Văn Tân - Hoài Thanh - Nguyễn Đổng Chi (Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, tập III) dựa vào sự kiện Lý Nguyên Cát và các điển tích Hán để cho rằng tuồng có nguồn gốc từ hý khúc Trung Quốc truyền vào.
  3. Quan điểm về nguồn gốc bản địa dân tộc:
    • Các nhà sử học Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Đinh Xuân Lâm (Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam) khẳng định nghệ thuật sân khấu Tuồng - Chèo hình thành sớm từ nền tảng văn hóa dân tộc thế kỷ XV.
    • Các nhà nghiên cứu sân khấu như Phạm Phú Tiết (Hội thoại về nghệ thuật Tuồng), Hoàng Châu Ký (Sơ thảo lịch sử Tuồng, Tuồng cổ), Mịch Quang (Tìm hiểu nghệ thuật Tuồng, Tìm hiểu đặc trưng sân khấu Tuồng), Lê Ngọc Cầu (Tuồng hài, Thử tìm cái lõi của Tuồng), Vũ Ngọc Liễn (Chọn và giới thiệu Tuồng Đào Tấn) khẳng định tuồng nảy sinh từ ca múa nhạc và diễn xướng dân gian bản địa, trong đó vai trò của Đào Duy Từ tại Đàng Trong là một dấu mốc then chốt.
  4. Nghiên cứu về thể loại và kịch bản: Hoàng Châu Ký phân chia thành tuồng cổ, tuồng cung đình, tuồng dân gian, tuồng đồ, tuồng văn thân, tuồng tân thời; Lê Ngọc Cầu và Phan Ngọc nghiên cứu chuyên sâu về mảng tuồng hài, tuồng đồ (Nội dung xã hội và mỹ học Tuồng đồ); Nguyễn Thị Nhung khảo sát về phong cách và xác định tuồng là kịch hát kể chuyện, sân khấu giáo huấn; Tất Thắng khảo sát các vở tuồng của Đào Tấn và Nguyễn Hiển Dĩnh (Kịch hát truyền thống nhận thức từ một phía).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù các công trình đi trước đã đạt được nhiều kết quả về lịch sử nghệ thuật biểu diễn và tuồng hài dân gian, mảng kịch bản tuồng cổ viết về đề tài quân quốc vẫn chưa được khảo sát một cách chỉnh thể dưới góc độ tác phẩm văn học. Các tiêu chí phân loại tuồng trước đây còn bộc lộ sự thiếu nhất quán, pha trộn giữa tiêu chí thời gian, nội dung và môi trường biểu diễn. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách phân tích kịch bản tuồng quân quốc như một thể loại văn học trung đại mẫu mực trên ba phương diện gắn kết hữu cơ: thẩm mỹ học, hệ thống đạo lý và bối cảnh lịch sử - xã hội.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa văn học nghệ thuật và hiện thực đời sống xã hội; các nguyên lý mỹ học về cái đẹp, cái anh hùng và cái bi kịch; lý luận văn học trung đại Việt Nam của Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Trần Đình Hượu, Phương Lựu; cùng lý thuyết sân khấu tự sự phương Đông (kết hợp quan điểm sân khấu tự sự của Bertolt Brecht và bi kịch cổ điển của Pierre Corneille).

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả áp dụng phương pháp nghiên cứu tổng thể, xem kịch bản tuồng là một chỉnh thể cấu trúc nghệ thuật vừa có các mối tương quan nội tại, vừa chịu sự quy định của các tương quan bên ngoài (hiện thực lịch sử, tiếp nhận của công chúng, truyền thống văn hóa dân tộc, và mối quan hệ giữa tích và trò).

Bình diện tiếp cận Nội dung phân tích
Bình diện cấu trúc văn bản nghệ thuật Khảo sát mối tương quan nội tại: cốt truyện, kết cấu màn hồi, xây dựng nhân vật, phương thức tự sự - kịch - trữ tình, và ngôn ngữ văn học kịch bản.
Bình diện đạo lý - xã hội Phân tích mối liên hệ ngang giữa tác phẩm với hiện thực đời sống, sự dung hợp giữa chuẩn mực Nho gia với tâm thức đạo đức truyền thống của nhân dân.
Bình diện văn hóa - lịch sử Phân tích mối liên hệ dọc của tác phẩm trong tiến trình lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam thế kỷ XVI - XVIII và sự phát triển của văn học chữ Nôm.

Các phương pháp nghiên cứu hỗ trợ bao gồm: phương pháp lịch sử - xã hội, phương pháp phân tích và tổng hợp văn bản, phương pháp loại hình học và thi pháp học văn học kịch bản.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Văn bản các vở tuồng cổ mẫu mực: Sơn Hậu, Tam nữ đồ vương, Triệu Đình Long, Đào Phi Phụng, An trào kiếm, Võ Hùng Vương...
  • Văn bản các vở tuồng triều Nguyễn và cận đại: Trầm hương các, Hộ sinh đàn, Diễn võ đình, Trảm Trịnh Ân, Kim Thạch kỳ duyên...
  • Hồ sơ kịch bản tư liệu tại Viện Sân khấu, Nhà hát Tuồng Trung ương; các tập hồi ký của các nghệ nhân, nghệ sĩ tuồng: Nguyễn Nho Túy, Nguyễn Lai, Ngô Thị Liễu, Bạch Trà, Quang Tốn.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Lịch sử vấn đề nghiên cứu Tuồng

Chương I tập trung giải quyết 4 nội dung cốt lõi:

  1. Vấn đề đề tài: Khẳng định tuồng trung đại bao gồm hai mảng đề tài chính:
    • Đề tài quân quốc: Mảng đề tài lớn nhất, tiêu biểu nhất, tập trung vào biến cố cung đình ("vua băng, nịnh tiếm" dẫn tới "chém nịnh, định đô, tôn vương, tức vị"). Ở giai đoạn trước triều Nguyễn, khái niệm quân và quốc thống nhất, trung quân đồng nghĩa với ái quốc, chính thống đồng nhất với chính nghĩa. Sang giai đoạn triều Nguyễn, quan hệ này bị rạn nứt: đấng quân vương bị phê phán (Trầm hương các, Trảm Trịnh Ân), các nhân vật chính diện chống lại triều đình thối nát (Hộ sinh đàn, Diễn võ đình). Vở Võ Hùng Vương của Nguyễn Hiển Dĩnh được xác định là tác phẩm khép lại đề tài quân quốc cổ điển.
    • Đề tài thế sự: Phản ánh nhân tình thế thái, đạo lý ứng xử gia đình và xã hội dân dã, tiêu biểu trong tuồng dân gian (Nghêu - Sò - Ốc - Hến, Trương Ngáo, Trần Bồ...).
  2. Vấn đề thể loại và phân loại: Thống kê thực tế ghi nhận hơn 5.000 thuật ngữ nghề nghiệp và trên 30 danh xưng tuồng khác nhau (tuồng thầy, tuồng pho, tuồng kinh, tuồng ngự, tuồng cương, tuồng đồ, tuồng văn thân...). Luận án đề xuất tiêu chí phân loại nhất quán:
    • Theo tiến trình lịch sử: Tuồng cổ/trung đại (trước cuối thế kỷ XIX), Tuồng cận đại (1900 - 1945), Tuồng hiện đại/cách mạng (sau 1945).
    • Theo tính chất văn bản: Tuồng bác học (thành văn) và Tuồng dân gian (truyền khẩu).
  3. Vấn đề nguồn gốc: Khẳng định nghệ thuật sân khấu dân tộc hình thành từ truyền thống ca múa nhạc diễn xướng thời Lý - Trần và sự phát triển của chữ Nôm. Sự kiện Lý Nguyên Cát năm 1285 đóng vai trò chất xúc tác thúc đẩy tiến trình diễn ra nhanh hơn. Tuồng định hình tại Đàng Ngoài (vùng Thanh - Nghệ) và phát triển rực rỡ tại Đàng Trong từ thế kỷ XVII - XVIII gắn với công lao của Đào Duy Từ và sự nâng đỡ của các chúa Nguyễn, triều Nguyễn.
  4. Vấn đề danh ngữ: Khảo sát ngữ nghĩa các từ "Tuồng" (bắt nguồn từ chữ "Tượng", mang nghĩa hình dung, tái hiện sự vật, gần nghĩa với "Trò"), "Hát Bội" (xuất phát từ sinh hoạt tế lễ trò Bội dân gian hoặc từ "bội độc", "bài ưu"), và "Hát Bộ" (đọc trệch từ hát bội hoặc chỉ lối diễn xuất có động tác bộ tịch).
Thời kỳ lịch sử Đặc trưng đề tài quân quốc Tác phẩm tiêu biểu
Trước triều Nguyễn (TK XVI - XVIII) Quân - Quốc thống nhất; Trung quân là Ái quốc; Chính thống là Chính nghĩa; mô-típ "Vua băng nịnh tiếm" đến phục quốc thành công. Sơn Hậu, Tam nữ đồ vương, Triệu Đình Long, Đào Phi Phụng, An trào kiếm.
Triều Nguyễn (TK XIX - đầu TK XX) Mối quan hệ Quân - Quốc bị phá vỡ; vua bạc nhược bị phê phán; trung thần phản kháng triều đình; đề cao tình đời, thế sự. Trầm hương các, Trảm Trịnh Ân, Hộ sinh đàn, Diễn võ đình, Võ Hùng Vương.
Cận đại (1900 - 1945) Rời bỏ đề tài quân quốc cung đình, chuyển sang đề tài tình cảm lãng mạn, tiểu thuyết, chịu ảnh hưởng tư tưởng tư sản. Kim Thạch kỳ duyên, Phấn trang lầu, Mối tơ vương, Cờ trắng nường xanh.

Chương II: Những vấn đề thẩm mỹ trong Tuồng quân quốc

Chương II phân tích các phương diện mỹ học của thể tài:

  • Đối tượng phản ánh và cảm hứng thẩm mỹ: Phản ánh các biến cố lịch sử bạo liệt của đất nước. Cái đẹp trong tuồng quân quốc gắn liền hữu cơ với cái đạo đức, đặt nhân vật vào tình huống bi thương, thử thách khắc nghiệt để bộc lộ phẩm giá cao thượng.
  • Hình tượng người anh hùng an nguy trị loạn: Khác với hình tượng tráng sĩ chống giặc ngoại xâm thời Lý - Trần, người anh hùng trong tuồng quân quốc mang sứ mệnh dẹp loạn nội chiến, bảo vệ vương quyền thống nhất và cuộc sống bình yên của muôn dân (Khương Linh Tá, Đổng Kim Lân, Phàn Định Công, Tạ Ngọc Lân, Tư Cung...).
  • Phương thức tái hiện hiện thực: Kết hợp hài hòa giữa ba phương thức: tự sự (kể lại biến cố), kịch (xung đột đối kháng quyết liệt giữa trung và nịnh) và trữ tình (bộc lộ thế giới nội tâm bi tráng, mĩ tình).
  • Ngôn ngữ kịch bản: Kết hợp điêu luyện giữa văn ngôn bác học chữ Hán (thành ngữ, điển tích, đối ngẫu) với ngôn ngữ văn học chữ Nôm biểu cảm, giàu nhịp điệu sân khấu.

Chương III: Những vấn đề đạo lý trong Tuồng quân quốc

Chương III làm rõ bản chất hệ thống đạo đức thể hiện trong kịch bản:

  • Cơ cấu đạo lý: Khung mô thức bề ngoài sử dụng các chuẩn mực Nho gia (tam cương, ngũ thường: trung, hiếu, tiết, nghĩa), chịu ảnh hưởng mờ nhạt của Phật giáo và Lão - Trang.
  • Tính chất dân tộc hóa và nhân bản hóa: Tác giả tuồng đã truyền tải các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc vào trong vỏ bọc Nho giáo. Chữ "Trung" trong tuồng quân quốc không phải là ngu trung mù quáng mà gắn bó chặt chẽ với lòng yêu nước, thương dân và bảo vệ chính nghĩa.
  • Sự hy sinh vì đại nghĩa: Tinh thần nghĩa khí, nhân ái, thủy chung thể hiện sâu sắc qua hành động xả thân của các tuyến nhân vật: tôi trung (Viên Hòa Ngạn, Triệu Khắc Thường), bạn bè bằng hữu (Khương Linh Tá hy sinh cứu Đổng Kim Lân), và đặc biệt là hình tượng những người phụ nữ trung trinh, quyết liệt cứu nước, cứu chúa (Phương Cơ, Nguyệt Hạo, Thế Phụng, Mai Hương, Mai Xuân, Đổng mẫu, Lý mẫu...).

Chương IV: Những vấn đề xã hội trong Tuồng quân quốc

Chương IV lý giải nguồn gốc xã hội và mối quan hệ với công chúng:

  • Cơ sở hiện thực lịch sử: Bối cảnh nội chiến phân tranh giữa các tập đoàn phong kiến (Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn) từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII tại Việt Nam, đặc biệt là nhu cầu củng cố chính trị của các chúa Nguyễn tại vùng đất mới Đàng Trong, chính là mảnh đất hiện thực sản sinh ra loại tuồng quân quốc.
  • Tính chất đa tầng trong tiếp nhận của công chúng:
    • Giai cấp thống trị (vua chúa, quan lại): Tiếp nhận tuồng như một công cụ tuyên truyền ý thức hệ phong kiến chính thống và đạo trung quân.
    • Tầng lớp bình dân: Tiếp nhận tác phẩm qua lăng kính đạo lý nhân bản, sự ngưỡng mộ khí tiết anh hùng, tình nghĩa gia đình bè bạn và khát vọng về một xã hội ổn định, công bằng. Sự quy tụ thị hiếu của đông đảo nhân dân lao động đã xác lập sức sống trường tồn của thể loại vượt ra ngoài khuôn khổ cung đình phong kiến.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Xác lập vị trí thể loại: Khẳng định kịch bản tuồng cổ viết về đề tài quân quốc là đỉnh cao, là điển phạm của nghệ thuật tuồng bác học trung đại Việt Nam, tồn tại độc lập như một thể loại văn học thực thụ chứa đựng giá trị văn bản học sâu sắc.
  2. Tiêu chí phân loại khoa học: Đưa ra hệ tiêu chí phân loại tuồng rõ ràng, khắc phục tình trạng phân loại tùy tiện, nhập nhằng giữa các cấp độ loại hình trong giới nghiên cứu trước đó.
  3. Kiến giải mới về đạo lý: Chứng minh hệ thống đạo lý trong tuồng quân quốc không thuần túy là Nho giáo phong kiến bảo thủ, mà là sự hòa quyện giữa mô thức Nho gia với cốt lõi đạo đức nhân bản, truyền thống yêu nước thương dân của văn hóa Việt Nam.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Xác định các "hằng số giá trị" phục vụ bảo tồn và cách tân:
    • Hằng số đạo đức nhân bản truyền thống: Nền tảng tư tưởng cốt lõi cần kế thừa.
    • Hình tượng người anh hùng an nguy trị loạn: Mẫu hình nhân vật hành động vì đại nghĩa, giàu giá trị giáo dục nhân cách.
    • Phương thức biểu hiện bi hùng tổng hợp: Tích hợp tự sự - kịch - trữ tình, tạo điều kiện phát huy nghệ thuật diễn xướng đặc trưng.
  2. Ứng dụng đào tạo: Luận án cung cấp hệ thống luận cứ lý luận và tư liệu có thể sử dụng làm giáo trình đại cương về tuồng cổ, phục vụ công tác giảng dạy diễn viên, biên kịch, đạo diễn tại các trường đại học và trung học sân khấu nghệ thuật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế được ghi nhận

  • Về điều kiện văn bản học: Các kịch bản tuồng cổ tồn tại rất nhiều dị bản; tác giả không chuyên sâu chữ Hán Nôm nên gặp khó khăn nhất định khi đối chiếu trực tiếp các bản gốc chữ Hán Nôm nguyên bản.
  • Về phạm vi chuyên ngành: Luận án thuộc chuyên ngành Ngữ văn nên tập trung chủ yếu vào bình diện văn bản kịch bản văn học, chưa đi sâu phân tích toàn diện các yếu tố kỹ thuật sân khấu như nghệ thuật dàn dựng đạo diễn, hệ thống âm nhạc, vũ đạo và múa tuồng.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Khảo sát sâu hơn mối quan hệ tương tác hữu cơ giữa "tích" (kịch bản văn học) và "trò" (nghệ thuật biểu diễn trên sân khấu thực tế).
  • Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu kịch bản tuồng quân quốc với các thể loại văn học trung đại cùng thời kỳ (truyện Nôm, ngâm khúc, thơ ca bang giao) để làm rõ hơn thi pháp thời đại.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu nghiên cứu chuyên sâu, có giá trị ứng dụng cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học: Chuyên ngành Văn học dân gian, Văn học Việt Nam trung đại, Lý luận văn học, Văn hóa học và Nghệ thuật Sân khấu học khi nghiên cứu về thi pháp kịch bản truyền thống và lịch sử sân khấu dân tộc.
  • Biên kịch, đạo diễn, diễn viên sân khấu: Tại các đơn vị nghệ thuật truyền thống (Nhà hát Tuồng Trung ương, Nhà hát Tuồng Đào Tấn, Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh...) trong việc tiếp cận đúng đắn kết cấu kịch bản, phương pháp xây dựng nhân vật mẫu mực khi phục dựng các vở tuồng thầy hoặc sáng tác kịch bản mới.
  • Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách văn hóa: Cung cấp cơ sở khoa học để đánh giá chính xác giá trị di sản sân khấu truyền thống, định hướng công tác bảo tồn, phát huy và cách tân nghệ thuật kịch hát dân tộc.

Câu hỏi thường gặp

1. Cấu trúc kịch bản điển hình của tuồng cổ viết về đề tài quân quốc giai đoạn trước triều Nguyễn là gì?

Các vở tuồng quân quốc giai đoạn này (thường gọi là tuồng thầy) có cấu trúc cốt truyện tương đối thống nhất: mở đầu bằng biến cố "vua băng, nịnh tiếm" (vua mất, gian thần tiếm quyền, xã hội lâm nguy), thân vương cùng trung thần phải bôn tẩu; kết thúc bằng sự kiện "chém nịnh, định đô, tôn vương, tức vị" (tiêu diệt gian thần, lập lại vương quyền chính thống, giang sơn quy về một mối).

2. Sự khác biệt căn bản giữa tuồng quân quốc trước triều Nguyễn và dưới triều Nguyễn là gì?

  • Trước triều Nguyễn: Quan niệm Quân và Quốc thống nhất hoàn toàn; trung quân đồng nghĩa với ái quốc; chính thống đồng nhất với chính nghĩa; nhân vật trung tâm là mẫu hình lý tưởng của vương quyền (Sơn Hậu, Tam nữ đồ vương).
  • Dưới triều Nguyễn: Mối quan hệ Quân - Quốc bị rạn nứt; hình tượng quân vương bạc nhược bị phê phán; các nhân vật chính diện công khai chống lại lệnh vua thối nát, bộc lộ mâu thuẫn giữa đạo trung và đạo làm người (Trầm hương các, Trảm Trịnh Ân, Hộ sinh đàn, Diễn võ đình).

3. Tác giả luận án đề xuất hệ tiêu chí phân loại tuồng như thế nào?

Tác giả đề xuất hai hệ tiêu chí phân loại chính:

  • Theo thời gian lịch sử: Tuồng cổ/trung đại (từ cuối thế kỷ XIX trở về trước), Tuồng cận đại (1900 - 1945), và Tuồng hiện đại/cách mạng (sau 1945).
  • Theo tính chất: Tuồng bác học (tuồng thành văn, có tác giả trí thức hoặc bản thảo cố định) và Tuồng dân gian (sáng tác tập thể, lưu truyền miệng).

4. Đạo lý thể hiện trong kịch bản tuồng quân quốc có phải thuần túy là Nho giáo phong kiến không?

Hệ thống đạo lý trong tuồng quân quốc sử dụng mô thức thuật ngữ Nho gia (trung, hiếu, tiết, nghĩa), nhưng nội dung cốt lõi đã được nhân bản hóa và dân tộc hóa sâu sắc. Tinh thần trung quân gắn liền với lòng yêu nước, thương dân, tình nghĩa gia đình, bè bạn thủy chung và sự xả thân bảo vệ chính nghĩa của nhân dân.

5. Vì sao tuồng quân quốc lại phát triển mạnh mẽ tại vùng đất Đàng Trong thế kỷ XVII - XVIII?

Do bối cảnh lịch sử chia cắt Trịnh - Nguyễn, các chúa Nguyễn tại Đàng Trong trong quá trình xây dựng cơ nghiệp đã có chính sách trọng đãi văn nghệ sĩ (tiêu biểu là việc thu dụng Đào Duy Từ), không bài xích nghệ thuật sân khấu mà sử dụng tuồng làm phương tiện giải trí và tuyên truyền ý thức hệ chính thống, tạo môi trường xã hội thuận lợi cho thể loại này phát triển hoàn thiện.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Xuân Yến là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên khảo sát kịch bản tuồng cổ viết về đề tài quân quốc trên bình diện tác phẩm văn học trung đại. Tác giả đã làm sáng tỏ những đặc trưng thi pháp thẩm mỹ bi hùng, giải mã sự dung hợp giữa đạo lý Nho gia với giá trị nhân bản truyền thống dân tộc, đồng thời phân tích cơ sở xã hội hình thành và sự tiếp nhận đa tầng của công chúng. Công trình xác lập hệ tiêu chí phân loại thể loại khoa học và đề xuất các luận cứ thực tiễn thiết thực nhằm phục vụ công tác bảo tồn, cách tân sân khấu tuồng truyền thống.