CHƯƠNG 1 THƠ MAI VĂN PHẤN TRONG DÒNG CHẢY THƠ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 1. Một số điểm nổi bật của thơ Việt Nam đương đại 1. Cái tôi cá nhân được đề cao trong chiều sâu nhân bản Thơ Việt Nam từ sau 1986 có nhiều thay đổi so với trước đây, cái tôi cá nhân được đề cao và được chú ý khai thác khám phá một cách mới mẻ. Thế giới nội cảm của con người được nhìn nhận ở chiều sâu nhân bản.
Cảm hứng ngợi ca và tính sử thi mờ dần để nghiêng về định giá các giá trị đã ổn định, tính hoài nghi được tăng cao. Nhà thơ không còn là người giáo dục nữa mà bây giờ họ là người có khả năng đánh thức, thúc giục, khơi dậy cảm xúc trong tâm hồn con người. Những tác phẩm trong giai đoạn có khả năng đánh thức những khát khao, ước mơ cho người đọc. Đời sống nội tâm và chiều sâu ẩn dấu trong tâm hồn được nhà thơ khai thác một cách triệt để.
Con người trở thành một sinh thể bí ẩn, phức tạp. Con người hướng dẫn nhà thơ khám phá và lột tả thế giới nội tâm của họ. Nhà thơ nói nhiều hơn về nỗi buồn nhân sinh, về những cảm nhận của cái tôi trước một thực tại nghiệt ngã. Nhiều nhà thơ công khai bày tỏ nỗi buồn.
Đó là nỗi buồn gắn chặt với một thực tại mới, một cảm quan nghệ thuật mới. Nỗi buồn vì cuộc sống mưu sinh, những trắc ẩn về riêng tư, đôi lứa: Em chết trong nỗi buồn/ Chết như từng giọt sương/ Rơi không thành tiếng (Lâm Thị Mỹ Dạ). Các nhà thơ rung động trước những thay đổi tâm lý tinh tế, sâu kín, nhiều khi ngỡ như thật mong manh. Tuy nhiên cũng xuất hiện không ít nỗi đau giả, những tiếng khóc vờ vì cảm xúc hời hợt và thói triết lý vặt trong thơ.
Người đọc cảm nhận nỗi buồn, cô đơn là một phạm trù thẩm mĩ và cũng là một đề tài nổi bật của thơ ca. Không hẳn nỗi buồn nào cũng nhất thiết phải có nguyên cơ, điều quan trọng là nhà thơ phải thể hiện được những nỗi buồn sâu sắc và thấm đầy chất nhân bản. Thơ viết nhiều về nỗi buồn nhưng dường như vẫn còn hiếm những nỗi buồn cao cả được thể hiện một cách sâu sắc và ám ảnh. Ngôn ngữ được gia tăng tính chất tự do Ngôn từ của thơ Việt Nam đương đại tự do, “không có vùng cấm” nào cho ngôn từ.
Nhiều ngôn từ phong phú, ngôn ngữ sang trọng, bóng bẫy, ngôn ngữ chợ búa, ngôn ngữ bụi đời, ngôn ngữ đời thường đều xuất hiện trong thơ. Ngoài ra trong các tác phẩm thơ xuất hiện cảm hứng giải thiêng – con người phá vỡ những chuẩn mực được cho là cao cả, phá vỡ những chuẩn mực thiêng liêng không thể thay đổi mà người đi trước đã tạo lập. Các nhà thơ đã đưa ra một quan điểm mới theo quan niệm cá nhân. Ví dụ trong bài Tự hát của Xuân Quỳnh: Chẳng dại gì em ước nó bằng vàng/ Trái tim anh đã từng biết đấy/ Anh là người coi thường của cải.
Phụ nữ được tự do nói về quan niệm tình yêu của mình, có khi họ còn tự động tán tỉnh đàn ông nữa. Thơ chú ý đến tính đa nghĩa của ngôn ngữ thơ ca, gia tăng chất ảo trong thơ. Nhà thơ ý thức tạo sự nhòe mờ cho ngôn ngữ nghệ thuật, vì thế để hiểu thơ người đọc phải giải mã các sinh thể nghệ thuật qua nhiều chiều liên tưởng văn hóa khác nhau. Tức là người đọc phải có trình độ và kiến thức thì mới có thể hiểu được thơ.
Ví dụ bài Tiếng Việt của Lưu Quang Vũ Ôi Tiếng Việt như bùn như lụa. Trên thi đàn, xuất hiện nhiều giọng thơ lạ mang đậm chất phương Tây, trong đó thể hiện rõ ý thức phá vỡ những chiều tuyến tính tạo nên những dòng chảy đứt nối. Nó còn gia tăng tính đồng hiện của hình ảnh thơ. Nhà thơ luôn đặt các hiện tượng khác nhau, bên cạnh nhau, cố gắng tỉnh lược các mối quan hệ bề nổi buộc người đọc phải tự xác lập các mối liên hệ giữa chúng.
Thơ Việt Nam đương đại mang đậm dấu ấn hậu hiện đại Hậu hiện đại là một khuynh hướng lớn trong văn học thế giới nên việc văn học Việt Nam mang dấu ấn hậu hiện đại là điều dễ hiểu. Khuynh hướng này xuất hiện trong thơ Việt Nam khá muộn, phải đến khi cải cách vào năm 1986, văn chương Việt mới đi vào quỹ đạo văn chương thế giới và thơ mới mang dấu ấn của khuynh hướng này. Khuynh hướng hậu hiện đại phát triển cho phép nhà thơ đi ngược lại quy luật đã có, cái tôi cá nhân nhìn đ ời thực bằng nhiều màu sắc, được đánh giá mọi vấn đề không toàn diện. Từ đó khiến cho nội dung thơ trở nên phong phú hơn, nhìn từ những góc nhau nên có những suy tư, chiêm nghiệm, bài học, kinh nghiệm khác nhau.
Có thể nhận thấy điều này ở thơ Lê Đạt, Trần Dần, Hoàng Cầm… 7 Luan van Thơ Việt Nam trong khoảng từ năm 2000 – 2010 là bước tiến đột phá trong quá trình thơ hậu hiện đại. Khi Internet và các loại hình thông tin bùng nổ, người sáng tác trẻ có cơ hội tiếp cận mọi trào lưu văn học trên thế giới. Đặc biệt là năm 2002, với sự ra đời hàng loạt website văn học tiếng Việt, đã được xem là thời điểm định hình cho thời kì văn học hậu hiện đại Việt Nam. Theo Inrasa, nhà thơ hậu hiện đại chối bỏ mọi dạng đại tự sự bằng cách hiệu quả nhất là giải thiêng sự thể.
Mang tư tưởng tự do, nhà thơ hậu hiện đại luôn có tiếng nói phản biện xã hội đương thời, bóc trần sự mê hoặc mà thông tin đại chúng muốn tác động vào xã hội. Đồng thời thơ hậu hiện đại tự thân mang ý hướng phi tâm hóa, xóa bỏ mọi sự phân biệt trong đội ngũ sáng tác. Lực lượng sáng tác thơ mang dấu ấn của trào lưu hậu hiện đại bấy giờ như: nhóm Mở Miệng, Inrasara, Mai Văn Phấn, Vi Thùy Linh, Nguyễn Thế Hoàng Linh, Nguyễn Hoàng Nam, Phan Thị Vàng Anh, Phan Huyền Thư, Nguyễn Quang Thiều, Bùi Chát, Khế Iêm… Dấu ấn hậu hiện đại trong thơ Việt Nam đương đại cho thấy sự phát triển và mở rộng lãnh thổ của thơ và hướng đi mới của bộ phận tác giả trẻ nước ta hiện nay. Từ đó mang lại niềm tin cho công chúng một quá trình chuyển mình trong thi ca đầy năng động.
Người đọc được thưởng thức những dòng thơ mang những sắc diện hoàn toàn mới mẻ trong nhìn nhận, đánh giá những hiện tượng của đời sống, cũng như trong bình diện ngôn ngữ, giọng điệu… Tóm lại, nền thơ Việt Nam càng ngày càng phong phú với những cách tân mới mẻ, độc đáo cùng nhiều khuynh hướng thơ. Nhìn một cách tổng quát, thơ sau 1975 đã vận động một cách mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa. Với sự đổi mới về nghệ thuật, sự nhận thức sâu sắc về bản chất thơ Việt Nam đương đại đã tạo ra một đà phát triển mạnh mẽ cho nền thi ca dân tộc. Hành trình sáng tạo nghệ thuật của Mai Văn Phấn 1.
Mai Văn Phấn - nhà thơ của “những cuộc vong thân” Mai Văn Phấn sinh năm 1955 tại một làng quê thuộc huyện Kim Sơn, Ninh Bình. Từ nhỏ, cái mộng văn chương đã ấp ủ trong lòng nhà thơ. Ông yêu thơ và làm thơ từ khi còn là cậu bé mười sáu, mười bảy tuổi. Bài thơ đầu tay Hoa xoan ghi dấu lại những ngày tháng sống và chiến đấu gian khổ trong quân ngũ của 8 Luan van Mai Văn Phấn.
Cũng từ đây, nhà thơ bắt đầu có những trăn trở về con đường thơ của mình, muốn xóa đi tất cả những quan niệm, hiểu biết về thơ ca trước đó. Là nhà thơ thuộc thế hệ hậu chiến, một trong những cây bút xuất sắc của dòng thơ cách tân sau 1975, những tác phẩm của ông đã góp phần không nhỏ trong cuộc cách tân thơ ca Việt Nam. Mai Văn Phấn đã tìm cho mình một giọng thơ riêng rất tinh tế với những cảm xúc sâu lắng và ngôn từ được trau chuốt. Nhà thơ đã cho ra đời hàng loạt các tác phẩm ấn tượng: Giọt nắng (1992), Gọi xanh (1995), Cầu nguyện ban mai (1997), Nghi lễ nhận tên (1999), Người cùng thời (1999), Vách nước (2003), Hôm sau (2009), và đột nhiên gió thổi (2009), Bầu trời không mái che (2010), hoa giấu mặt (2012), Vừa sinh ra từ đó (2013), Thả (2015), Phê bình tiểu luận Không gian khác (2016), Lặng yên cho nước chảy (2018)… Thơ Mai Văn Phấn hiện được dịch ra nhiều thứ tiếng và giới thiệu tại nhiều quốc gia như Anh quốc, Hoa Kì, Thái Lan, Indonesia, Thụy Điển,… Thành công trong sáng tác thơ ông đã được ghi nhận bằng hàng loạt các giải thưởng uy tín như: Giải thưởng Cuộc thi thơ tuần báo Người Hà Nội năm 1994, Giải thưởng Cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ năm 1995, chuỗi giải thưởng Văn học Nguyễn Bỉnh Khiêm (Hải Phòng) trong các năm 1991, 1993, 1994, 1995, Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam dành cho tập thơ Bầu trời không mái che năm 2010 và mới nhất là Giải thưởng văn học Cikada của Thụy Điển trao năm 2017.
Các giai đoạn sáng tác của Mai Văn Phấn 1. Từ khởi đầu đến năm 1995 Bắt đầu bằng bài thơ Tản mạn về cỏ viết năm 1990. Mai Văn Phấn đã bước vào làng thơ Việt Nam một cách vô cùng mộc mạc và giản dị. Hai tập thơ Giọt nắng (1992) và Gọi xanh (1995) được xem là sự đánh dấu thành công cho giai đoạn sáng tác đầu của tác giả.
Ra đời trong giai đoan khởi đầu nên đa số các bài thơ được viết bằng thể thơ lục bát xoay quanh những chủ đề như tình yêu quê hương đất nước, tình yêu gia đình, thiên nhiên… Trong giai đoạn này, ý thức cách tân nghệ thuật đã trỗi dậy trong nhà thơ mặc dù thơ ông vẫn chưa thoát khỏi hệ hình thi pháp truyền thống. Cùng với thể thơ lục bát truyền thống, hình thức vắt dòng cũng được Mai Văn Phấn sử dụng trong một số bài thơ làm cho thơ thêm cảm xúc hơn, diễn tả được tâm trạng của nhân vật trữ tình trong thơ. 9 Luan van “ (…) Giờ nỗi cô đơn lại sà xuống vần xoay Chiếc vòi rồng muốn hóa thân tôi thành cát bụi Mặt trời chiều hay trái cây chín vội Rụng xuống lòng mình Trĩu nặng Trần gian. (…)” (Cát bụi và tôi - Gọi xanh) Tuy chưa nhuần nhuyễn và đột phá nhưng thơ vắt dòng thể hiện rõ ý đồ nghệ thuật và sự sáng tạo không ngừng của nhà thơ 1.