Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài "Thực trạng tham gia của Phật tử vào hoạt động phát triển cộng đồng của Phật giáo nhập thế (Nghiên cứu trường hợp tại thị trấn Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc)" do sinh viên Nguyễn Thị Thu thực hiện thuộc ngành Xã hội học, Khoa Khoa học Xã hội, Học viện Nông nghiệp Việt Nam (năm 2022), dưới sự hướng dẫn của ThS. Trần Thanh Hương.

Về bối cảnh thực tiễn, nghiên cứu chỉ ra rằng trong tiến trình đổi mới và hội nhập toàn cầu, xã hội Việt Nam đang đối mặt với nhiều biến động phức tạp về mặt đạo đức và lối sống. Báo cáo Điều tra quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ ở Việt Nam năm 2019 của UNFPA (công bố năm 2020) ghi nhận gần 63% phụ nữ từng trải qua ít nhất một hình thức bạo lực do chồng gây ra trong cuộc đời và gần 32% bị bạo lực hiện thời (trong vòng 12 tháng). Đồng thời, sức ép môi trường gia tăng nghiêm trọng; theo Báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia năm 2019 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2020), lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên toàn quốc đạt mức trung bình 64.658 tấn mỗi ngày. Trước những áp lực xã hội và sinh thái đó, Phật giáo với truyền thống đồng hành cùng dân tộc và tinh thần "Phật giáo bất ly thế gian giác", "hòa quang đồng trần" đã khẳng định vai trò nhập thế nhằm chuyển hóa nhận thức, hỗ trợ an sinh và tham gia giải quyết các vấn đề xã hội đương đại.

Địa bàn thị trấn Đại Đình (huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc) là không gian văn hóa - tâm linh đặc thù gắn liền với danh thắng Tây Thiên – cái nôi Phật giáo lâu đời từ thời Trần với các di tích cổ tự như chùa Thượng Tây Thiên, Tây Thiên - Phù Nghì, Thiên Ân Cổ Tự, cùng hệ thống thiền viện hiện đại (Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, Thiền viện Trúc Lâm An Tâm, Đại Bảo Tháp Mandala). Nơi đây hiện quy tụ hơn 200 vị Tăng Ni tu tập, khoảng 500 Phật tử cư trú trên địa bàn và hàng nghìn Phật tử thập phương. Sự đan xen giữa thiết chế Phật giáo và nếp sống tín ngưỡng của cộng đồng đa dân tộc (Kinh, Sán Dìu, Thái, Mường, Dao) đặt ra yêu cầu làm rõ mức độ tham gia thực tế của Phật tử vào các hoạt động phát triển cộng đồng tại địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu chung: Tìm hiểu thực trạng tham gia của Phật tử vào hai hoạt động phát triển cộng đồng (phát triển giáo dục và từ thiện nhân đạo) của Phật giáo nhập thế tại thị trấn Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Thứ nhất, tìm hiểu đặc điểm nhân khẩu học của Phật tử tham gia vào các hoạt động phát triển cộng đồng của Phật giáo nhập thế tại thị trấn Đại Đình.
    • Thứ hai, tìm hiểu tình hình tham gia của Phật tử vào hai hoạt động phát triển cộng đồng (giáo dục cho Phật tử và hoạt động của Phật tử với cộng đồng) của Phật giáo nhập thế tại thị trấn Đại Đình.
    • Thứ ba, tìm hiểu thuận lợi và khó khăn của Phật tử khi tham gia vào hai hoạt động phát triển cộng đồng nói trên tại địa bàn nghiên cứu.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng tham gia của Phật tử vào hai hoạt động phát triển cộng đồng (giáo dục cho Phật tử và hoạt động từ thiện nhân đạo của Phật tử với cộng đồng) của Phật giáo nhập thế.
  • Khách thể nghiên cứu: Phật tử tại các chùa thuộc thị trấn Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào hai lĩnh vực: (1) Hoạt động giáo dục Phật giáo (các khóa học lý thuyết Phật pháp và các khóa tu tập thực hành); (2) Hoạt động từ thiện nhân đạo (đóng góp tài chính, hiện vật và trực tiếp tham gia hoạt động tại các cơ sở từ thiện hướng đến cộng đồng khó khăn).
  • Phạm vi không gian: Thị trấn Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
  • Phạm vi thời gian: Tài liệu thứ cấp thu thập từ năm 1990 đến năm 2022; dữ liệu sơ cấp được thu thập, xử lý và hoàn thiện báo cáo trong giai đoạn từ tháng 12/2021 đến tháng 03/2022 (toàn bộ thời gian thực hiện đề tài từ tháng 8/2021 đến tháng 3/2022).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hai khung lý thuyết xã hội học nền tảng để tiếp cận vấn đề nghiên cứu:

  • Lý thuyết Cấu trúc - Chức năng: Dựa trên các luận điểm của Émile Durkheim, Talcott Parsons, Robert K. Merton, Auguste Comte, Herbert Spencer, Vilfredo Pareto và Bronislaw Malinowski (dẫn theo Tô Duy Hợp, 2005; J. Milton Yinger; Robert N. Bellah). Lý thuyết này nhìn nhận xã hội như một hệ thống hoàn chỉnh gồm các bộ phận liên kết chặt chẽ. Hoạt động tôn giáo nói chung và các phong trào Phật giáo nhập thế nói riêng vận hành như một tiểu hệ thống thực hiện chức năng duy trì sự thống nhất đạo đức, cố kết xã hội và điều hòa các xung lực tâm lý, giúp cấu trúc cộng đồng thích ứng và phát triển ổn định.
  • Lý thuyết Lựa chọn duy lý: Dựa trên tư tưởng của Max Weber, George C. Homans, Peter Blau và James Coleman (dẫn theo Lê Ngọc Hùng, 2002; Bùi Thế Cường, 2008; Nguyễn Xuân Nghĩa, 2008). Lý thuyết giả định con người hành động có chủ đích, luôn cân nhắc giữa chi phí (thời gian, tài chính, công sức, sự điều chỉnh sinh hoạt) và lợi ích (sự bình an tâm lý, tri thức đạo đức, vốn xã hội, công đức tâm linh) nhằm tối ưu hóa kết quả lựa chọn khi tham gia các khóa tu, lớp học Phật pháp hay các chương trình thiện nguyện.

Các khái niệm công cụ chính:

  • Phật giáo: Hệ thống giáo lý, triết học nhân sinh quan và vũ trụ quan bắt nguồn từ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, được thực hành bởi Tăng Ni, Phật tử thông qua các thiết chế tự viện nhằm hướng thiện và giác ngộ.
  • Phật giáo nhập thế (Engaged Buddhism): Thuật ngữ được Thiền sư Thích Nhất Hạnh khởi xướng qua tác phẩm The Lotus in the Sea of Fire (1964/1966), chỉ sự dấn thân tích cực của Phật giáo bằng hành động cụ thể, đem triết lý đạo Phật hòa vào đời sống thường nhật để giải quyết các vấn đề xã hội, văn hóa, kinh tế và môi trường (Sallie B. King).
  • Phát triển cộng đồng: Quá trình tập hợp các nguồn lực và hoạt động nhằm nâng cao điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường và năng lực tự giải quyết khó khăn của cư dân (dẫn theo Lê Văn An, Ngô Tùng Đức, 2016; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2017).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và thu thập thông tin:

  • Thu thập dữ liệu thứ cấp: Khai thác các công trình sử học, xã hội học tôn giáo, báo cáo tổng kết của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Tam Đảo và tư liệu quản lý của các tự viện tại thị trấn Đại Đình.
  • Điều tra bằng bảng hỏi (khảo sát định lượng): Chọn mẫu ngẫu nhiên từ danh sách Phật tử do trụ trì các chùa và trưởng đạo tràng cung cấp, đạt dung lượng $N = 60$ mẫu. Do bối cảnh dịch bệnh Covid-19 bùng phát tại địa phương, kỹ thuật thu thập kết hợp giữa phỏng vấn trực tiếp, phỏng vấn qua điện thoại và phát phiếu hỏi trực tuyến.
  • Phỏng vấn sâu (định tính): Thực hiện 10 cuộc phỏng vấn chuyên sâu, bao gồm: 02 đại diện Ban Trị sự Phật giáo huyện Tam Đảo kiêm trụ trì tự viện; 02 Phật tử trực tiếp tham gia Ban tổ chức các hoạt động cộng đồng; 06 Phật tử thường xuyên tham gia hoạt động tại địa phương.
  • Thảo luận nhóm tập trung: Tiến hành 01 cuộc thảo luận nhóm với quy mô từ 5 đến 7 người, sử dụng công cụ thang đo xếp hạng (Ranking) để làm rõ mức độ tác động của các yếu tố thuận lợi và khó khăn.
  • Quan sát tham dự: Tác giả trực tiếp tham gia sinh hoạt tu học tại Chùa Tây Thiên Thiền Tự, thực hiện nhật ký thực địa, ghi chép và chụp ảnh các hoạt động giáo dục, từ thiện của Phật tử.
  • Xử lý số liệu: Dữ liệu định lượng từ 60 bảng hỏi được làm sạch, mã hóa và phân tích thống kê mô tả thông qua phần mềm SPSS; dữ liệu định tính được phân loại theo chủ đề dựa trên biên bản phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm.

Nội dung chính theo từng chương

Phần I, II và III: Đặt vấn đề, Tổng quan tài liệu và Phương pháp nghiên cứu

Nội dung tập trung luận giải bối cảnh chuyển dịch xã hội học tôn giáo, hệ thống hóa lịch sử Phật giáo nhập thế Việt Nam qua các triều đại (đặc biệt là Thiền phái Trúc Lâm thời Trần với tinh thần tự chủ văn hóa). Khung phân tích xã hội học của đề tài xác định hành vi tham gia của Phật tử chịu sự tác động đồng thời của ba nhóm yếu tố: đặc điểm nhân khẩu xã hội của cá nhân, điều kiện kinh tế - xã hội địa phương và hệ thống thiết chế/quy định của tổ chức Phật giáo.

Phần IV: Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu thực địa được tác giả cấu trúc và trình bày theo ba tiểu mục chuyên sâu:

4.1. Đặc điểm nhân khẩu học của Phật tử tham gia vào các hoạt động phát triển cộng đồng của Phật giáo nhập thế trong mẫu điều tra

Nội dung phân tích các biến số nhân khẩu học cốt lõi cấu thành chân dung Phật tử tham gia hoạt động cộng đồng tại thị trấn Đại Đình, bao gồm:

  • Cơ cấu giới tính: Khảo sát cho thấy tỷ lệ nữ giới áp đảo so với nam giới (nữ chiếm 70%, nam chiếm 30%). Yếu tố tâm lý, vai trò chăm sóc gia đình và truyền thống tín ngưỡng văn hóa Mẫu tại vùng đất Tây Thiên tạo điều kiện cho phụ nữ gắn kết chặt chẽ hơn với không gian chùa chiền, đồng thời đóng vai trò cầu nối đưa người thân cùng tham gia sinh hoạt tôn giáo.
  • Cơ cấu độ tuổi: Nhóm tuổi từ 25 đến 50 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (50.0%), tiếp đến là nhóm trên 50 tuổi (30.0%) và nhóm dưới 25 tuổi (20.0%). Số liệu phản ánh sự dịch chuyển rõ nét về cơ cấu tuổi; Phật tử không chỉ tập trung ở đối tượng người cao tuổi nghỉ hưu mà có xu hướng trẻ hóa mạnh mẽ ở độ tuổi lao động có nhu cầu giải tỏa căng thẳng công việc và tìm kiếm điểm tựa tinh thần.
  • Trình độ học vấn: Nhóm có trình độ Cao đẳng/Đại học chiếm đa số với 51.7%, tiếp theo là Trung học phổ thông chiếm 18.3%, Sau đại học chiếm 15.0% và Trung học cơ sở chiếm 8.3%. Tổng tỷ lệ Phật tử có trình độ từ cao đẳng trở lên đạt 66.7%, minh chứng cho xu hướng trí thức hóa trong cộng đồng tín đồ Phật giáo hiện đại.
  • Nghề nghiệp, hôn nhân và tuổi đạo: Mẫu nghiên cứu ghi nhận phần lớn Phật tử đã lập gia đình, hoạt động trong khu vực kinh tế tư nhân, buôn bán dịch vụ hoặc công chức, viên chức nhà nước. Tuổi đạo của Phật tử phân hóa từ nhóm mới quy y (dưới 3 năm) tham gia qua các khóa tu mùa hè đến các Phật tử lâu năm (trên 10 năm) giữ vai trò nòng cốt trong ban hộ tự và ban liên xã.

4.2. Tình hình tham gia của Phật tử vào hai hoạt động phát triển cộng đồng của Phật giáo nhập thế

Nội dung phân tích thực trạng tham gia theo hai nhánh hoạt động chính:

  • Hoạt động giáo dục Phật giáo: Phật tử tham gia qua hai hình thức là các khóa học giáo lý và các khóa tu tập ngắn ngày/cuối tuần tại các tự viện (tiêu biểu như Chùa Tây Thiên Thiền Tự, Thiền viện Trúc Lâm). Tần suất và mức độ tham gia khóa tu thực hành chiếm ưu thế áp đảo so với việc theo học các khóa lý thuyết kinh điển chuyên sâu. Động cơ tham gia chủ yếu nhằm rèn luyện đạo đức, chuyển hóa năng lượng tiêu cực, duy trì lối sống an lạc và tiếp nhận giáo lý nhân quả để ứng xử trong gia đình.
  • Hoạt động từ thiện nhân đạo: Thể hiện rõ nét qua các đợt quyên góp tài chính định kỳ, đóng góp hiện vật (lương thực, thuốc men, xe lăn, tặng quà tết) và tham gia trực tiếp vào các chuyến đi cứu trợ xã hội. Các chương trình từ thiện hướng đến hai không gian: tại địa phương trong huyện Tam Đảo (hỗ trợ các gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số nghèo) và ngoại huyện (các chuyến thiện nguyện đến vùng cao biên giới hoặc cứu trợ thiên tai).

4.3. Thuận lợi và khó khăn của Phật tử khi tham gia vào các hoạt động phát triển cộng đồng của Phật giáo nhập thế

  • Về thuận lợi: Phật tử nhận được sự hỗ trợ lớn từ môi trường tu học trang nghiêm, sự hướng dẫn tận tình của chư Tăng Ni trụ trì, tinh thần đoàn kết tương trợ giữa các đạo hữu đồng tu và sự ủng hộ, tạo điều kiện thuận lợi từ phía gia đình.
  • Về khó khăn: Rào cản lớn nhất đối với Phật tử trong độ tuổi lao động là sự hạn hẹp về quỹ thời gian do áp lực mưu sinh; trở ngại về khoảng cách địa lý và địa hình đồi núi khi di chuyển lên các chùa/thiền viện trên núi cao đối với người cao tuổi; thiếu hụt đội ngũ giảng sư chuyên trách có phương pháp sư phạm hiện đại; bên cạnh đó là những bất cập cục bộ trong khâu tổ chức, điều phối nguồn lực thiện nguyện và sự xuất hiện của một số cá nhân chưa thực sự tích cực làm ảnh hưởng đến không gian thanh tịnh.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

Khóa luận đã định lượng hóa các chỉ số nhân khẩu học và mức độ tham gia của Phật tử tại thị trấn Đại Đình qua bảng tổng hợp số liệu sau:

Chỉ số nhân khẩu học Phân nhóm tiêu chí Tỷ lệ phần trăm (%)
Giới tính Nữ giới 70.0%
Nam giới 30.0%
Độ tuổi Dưới 25 tuổi 20.0%
Từ 25 đến 50 tuổi 50.0%
Trên 50 tuổi 30.0%
Trình độ học vấn Trung học cơ sở 8.3%
Trung học phổ thông 18.3%
Cao đẳng / Đại học 51.7%
Sau đại học 15.0%

Dữ liệu khảo sát chứng minh rằng Phật tử tham gia hoạt động nhập thế tại Tây Thiên sở hữu nền tảng học vấn tương đối cao (nhóm trên đại học và cao đẳng/đại học chiếm tới 66.7%), độ tuổi lao động sung sức (25 - 50 tuổi chiếm một nửa mẫu khảo sát).

Về hình thức tham gia, có sự phân hóa rõ nét giữa hoạt động giáo dục và hoạt động từ thiện:

  • Đối với giáo dục Phật giáo: Phật tử chủ động ưu tiên các khóa tu tập ngắn hạn và khóa tu thiền có tính thực hành chuyển hóa tâm thức hơn là các khóa học lý thuyết kinh viện thuần túy.
  • Đối với hoạt động từ thiện: Phật tử duy trì tính bền bỉ qua nhiều năm, kết hợp linh hoạt giữa đóng góp nguồn lực tài chính cá nhân và tham gia trực tiếp công tác hậu cần, hỗ trợ vận chuyển, phát quà tại cơ sở.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Đổi mới nội dung và phương thức giáo dục Phật giáo: Xây dựng các chuyên đề giảng dạy Phật pháp gắn liền với giải quyết các vấn đề thực tiễn (quản trị cảm xúc, hóa giải mâu thuẫn gia đình, nuôi dạy con cái, bảo vệ môi trường sinh thái) thay vì nặng về lý luận kinh điển giáo điều.
  • Tối ưu hóa công tác tổ chức thiện nguyện: Thiết lập quy chế công khai, minh bạch nguồn tài chính và vật phẩm đóng góp; phân công nhiệm vụ khoa học trong ban điều hành đạo tràng; phối hợp chặt chẽ với chính quyền và các đoàn thể địa phương để chuyển giao hỗ trợ đúng đối tượng khó khăn.
  • Hỗ trợ điều kiện tham gia cho các nhóm đặc thù: Bố trí thời gian sinh hoạt khóa tu linh hoạt vào các ngày cuối tuần để thu hút nhóm công chức và lao động trẻ; tổ chức các phương tiện hỗ trợ di chuyển cho người cao tuổi tại các khu vực chùa nằm trên địa hình núi cao hiểm trở.

Đóng góp của đề tài

  • Đóng góp lý luận: Vận dụng kết hợp Lý thuyết Cấu trúc - Chức năng và Lý thuyết Lựa chọn duy lý để phân tích hành vi tôn giáo nhập thế trong bối cảnh xã hội chuyển đổi, góp phần làm phong phú thêm hướng tiếp cận xã hội học tôn giáo tại Việt Nam.
  • Đóng góp thực tiễn: Cung cấp bức tranh thực nghiệm chi tiết và hệ thống dữ liệu có giá trị về cộng đồng Phật tử tại trung tâm Phật giáo Tây Thiên (Đại Đình, Tam Đảo), tạo cơ sở tham khảo cho các nhà quản lý tôn giáo, chính quyền địa phương và Giáo hội Phật giáo trong việc định hướng, phát huy nguồn lực tôn giáo phục vụ an sinh xã hội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Dung lượng mẫu khảo sát định lượng còn ở mức khiêm tốn ($N = 60$ mẫu) do quá trình thu thập thông tin diễn ra trong giai đoạn dịch bệnh Covid-19 bùng phát phức tạp tại huyện Tam Đảo, khiến việc tiếp cận trực tiếp bị gián đoạn và phải thay thế một phần bằng phỏng vấn qua điện thoại và bảng hỏi trực tuyến. Phạm vi không gian nghiên cứu mới chỉ giới hạn tại một đơn vị hành chính là thị trấn Đại Đình, chưa thực hiện so sánh đối chứng liên địa bàn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô điều tra chọn mẫu trên phạm vi toàn huyện Tam Đảo hoặc địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc; triển khai các nghiên cứu so sánh chuyên sâu về sự tham gia của tín đồ giữa các hệ phái (Bắc tông, Nam tông, Thiền phái Trúc Lâm) hoặc so sánh giữa mô hình Phật giáo nhập thế ở vùng núi - nông thôn với vùng đô thị phát triển.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Đề tài là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Xã hội học, Tôn giáo học, Văn hóa học và Công tác xã hội khi tiếp cận mảng đề tài về nguồn lực tôn giáo và phát triển cộng đồng.
  • Nội dung giá trị nhất: Khung phân tích kết hợp giữa hai lý thuyết xã hội học kinh điển; bộ công cụ khảo sát thực địa hỗn hợp (bảng hỏi kết hợp phỏng vấn sâu và thang xếp hạng Ranking); hệ thống tư liệu thực tế và các trích dẫn định tính phản ánh sâu sắc tâm lý, động cơ của Phật tử vùng Tây Thiên.

Câu hỏi thường gặp

1. Nghiên cứu tiếp cận hoạt động phát triển cộng đồng của Phật giáo nhập thế tại thị trấn Đại Đình qua những khía cạnh cụ thể nào?
Nghiên cứu tập trung vào hai nhánh hoạt động thực tiễn: (1) Giáo dục Phật giáo, bao gồm việc Phật tử tham gia các khóa học lý thuyết Phật pháp và các khóa tu tập thực hành tại chùa; (2) Từ thiện nhân đạo, bao gồm hình thức quyên góp tài chính, hiện vật và trực tiếp tham gia hoạt động thiện nguyện tại các cơ sở trợ giúp cộng đồng khó khăn.

2. Cơ cấu giới tính và độ tuổi của mẫu khảo sát Phật tử tại Tây Thiên phản ánh đặc điểm gì?
Số liệu từ 60 mẫu khảo sát cho thấy nữ giới chiếm tỷ lệ vượt trội với 70.0% (nam giới chiếm 30.0%). Về độ tuổi, lực lượng tham gia có xu hướng trẻ hóa khi nhóm tuổi từ 25 đến 50 tuổi chiếm tỷ trọng lớn nhất với 50.0%, nhóm trên 50 tuổi chiếm 30.0% và nhóm dưới 25 tuổi chiếm 20.0%.

3. Khóa luận vận dụng Lý thuyết Lựa chọn duy lý như thế nào để giải thích hành vi của Phật tử?
Lý thuyết Lựa chọn duy lý được dùng để phân tích cách người Phật tử cân nhắc, tính toán giữa sự tiêu hao nguồn lực (chi phí đóng góp, sắp xếp thời gian công việc, vượt qua rào cản di chuyển đồi núi) với các lợi ích thực tế thu nhận được (giải tỏa căng thẳng tâm lý, thấu hiểu quy luật nhân quả, nhận được sự an lạc và nâng cao phẩm chất đạo đức sống).

4. Quá trình thu thập thông tin sơ cấp của đề tài đã gặp phải thách thức thực tế nào và được xử lý ra sao?
Do thời điểm điều tra thực địa (từ tháng 12/2021 đến tháng 03/2022) trùng với đợt bùng phát dịch bệnh Covid-19 tại địa bàn nghiên cứu, việc tiếp cận thực tế bị hạn chế. Tác giả đã xử lý bằng cách kết hợp phỏng vấn trực tiếp với phỏng vấn qua điện thoại và phân phát bảng hỏi online đối với 60 mẫu tín đồ.

5. Vị thế nghiên cứu của tác giả mang lại lợi thế gì cho phương pháp quan sát tham dự trong đề tài?
Tác giả là người thực tế tu hành tại Chùa Tây Thiên Thiền Tự (thị trấn Đại Đình). Vị thế nghiên cứu từ bên trong này tạo điều kiện thuận lợi để tác giả quan sát trực tiếp, liên tục các sinh hoạt của Phật tử, thu thập thông tin nhật ký thực địa chân thực và tiếp cận sâu với các vị trụ trì, đạo tràng mà người nghiên cứu bên ngoài khó thực hiện được.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Thu đã phác họa bức chân dung xã hội học rõ nét về người Phật tử tham gia các hoạt động phát triển cộng đồng của Phật giáo nhập thế tại địa bàn thị trấn Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Kết quả nghiên cứu chứng minh xu hướng trí thức hóa và trẻ hóa của cộng đồng Phật tử, đồng thời khẳng định vai trò tích cực của Phật giáo nhập thế trong việc nâng cao đời sống tinh thần và hỗ trợ an sinh xã hội tại địa phương. Vận dụng hiệu quả Lý thuyết Cấu trúc - Chức năng và Lý thuyết Lựa chọn duy lý, công trình cung cấp những luận cứ thực nghiệm có giá trị, đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu xã hội học tôn giáo và hoạch định chính sách phát triển cộng đồng bền vững.