Đặt vấn đề Phật giáo được truyền vào Việt Nam từ rất sớm, khoảng thế kỉ III trước công nguyên do các Đạo sư từ Tây Trúc Ấn Độ sang Việt Nam truyền giáo đi theo hai đường là đường bộ và đường biển. Phái đoàn đi đường bộ về phía Bắc Việt Nam, đi đường biển về phía Nam Việt Nam, sau này lần lượt hình thành hai hệ phái là Bắc truyền và Nam truyền theo hai miền. Trong quá trình du nhập, tồn tại và phát triển, Phật giáo luôn thấm đẫm tính nhân văn với trí tuệ vô ngã – vị tha và bốn đức tính cao thượng từ, bi, hỷ, xả đã trở thành đặc trưng không thể thiếu trong nền văn hóa dân tộc. Đặc biệt phát triển mạnh vào thời Trần cho tới các kì sau, Phật giáo với tinh thần hòa quang đồng trần, nhập thế, hòa cùng thế tục để dẫn dắt nhân tâm và giải quyết các vấn đề xã hội, con người, trải qua bao thăng trầm của lịch sử, Phật giáo vẫn luôn đồng hành cùng dân tộc (Nguyễn Lang, 1992).
Với Việt Nam, quá trình đổi mới đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử, nhưng trong thời đại kỷ nguyên toàn cầu hóa, nhiều vấn đề xã hội cũng đã xuất hiện và đang diễn biến phức tạp như: vấn đề suy thoái đạo đức, con người trở nên vô cảm, bạo lực, bạo hành và thiếu niềm tin. Theo Báo cáo Điều tra quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ ở Việt Nam năm 2019 cho thấy, cứ 03 phụ nữ thì có gần 02 phụ nữ (gần 63%) bị một hoặc hơn một hình thức bạo lực thể xác, tình dục, tinh thần và bạo lực kinh tế cũng như kiểm soát hành vi do chồng gây ra trong cuộc đời và gần 32% phụ nữ bị bạo lực hiện thời (trong 12 tháng qua) (UNFPA, 2020). Bên cạnh đó, vấn đề biến đổi khí hậu, thảm hoạ thiên tai ngày một gia tăng, theo Báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia năm 2019, mỗi ngày toàn quốc phát sinh trung bình 64.658 tấn chất thải rắn sinh hoạt tạo nên những nguy cơ, sức ép ngày càng lớn, tính chất càng phức tạp gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái, sức khỏe cộng đồng và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội (Bộ Tài Nguyên Môi Trường, 2020). Các 1 vấn đề làm sao để phát triển kinh tế bền vững và vấn đề phức tạp khác như: chất độc sinh học…; bên cạnh việc đối phó với những thách thức, khó khăn kể trên thì con người cũng cần thích nghi với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ.
Bởi vậy con người có rất nhiều nguy cơ bị ảnh hưởng bởi những biến động và diễn biến tiêu cực xảy ra ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Nhận định được vấn đề trong việc chuyển hóa nghiệp lực trở thành trách nhiệm chung của toàn nhân loại, Phật giáo chưa bao giờ tách khỏi tế bào xã hội mà thay vào đó Phật giáo có những phương thức hữu hiệu để giúp xã hội phát triển bền vững và giải quyết những vấn đề “nóng” ở cấp độ toàn cầu (Thích Gia Quang, 2017). Bằng tỉnh thức và chính niệm, mỗi thành viên trong tổ chức Phật giáo sẽ tích cực mang và đời thông điệp hòa bình, tư tưởng hóa giải oán kết hận thù và hành động chuyển hóa tiêu cực. Khuynh hướng nhập thế của Phật giáo và việc Phật giáo tham gia giải quyết các vấn đề xã hội thể hiện sự chủ động thích ứng, tinh thần trách nhiệm của Phật giáo trong thế giới đang biến đổi đáp ứng được nhu cầu, đòi hỏi của xã hội (Hiền Lê - Viện Trần Nhân Tông, 2017).
Sự tham gia của Phật tử trong các hoạt động nhập thế của Phật giáo đóng một vai trò quan trọng và chủ yếu hướng tới một xã hội phát triển bền vững. Thông qua các hoạt động Phật giáo nhập thế, Phật tử trong mọi tầng lớp có cơ hội học hỏi, thực hành theo tư tưởng triết lý đạo Phật, nâng cao dân trí, và có trách nhiệm với đời sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng. Phong trào mạnh mẽ của Phật tử trong các hoạt động phát triển cộng đồng đóng góp tích cực trong vấn đề giải quyết các vấn đề trên cấp độ toàn cầu. Tây Thiên (thuộc Thị trấn Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc) là một vùng đất thiêng với bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa lâu đời đã hội tụ và kết tinh những giá trị văn hóa quý báu.
Được coi là chiếc nôi đầu tiên của Phật giáo Việt Nam, trải qua bao thăng trầm của lịch sử, ngày nay Tây Thiên vẫn là một vùng đất tâm linh rực rỡ với nền Phật giáo phát triển, cơ sở chùa chiền, tịnh viện, thiền viện và tập trung đông đảo các vị Tăng Ni Phật tử đến tu tập và hành pháp. Với những thuận lợi trên, tư tưởng Phật giáo hòa cùng tâm 2 linh tín ngưỡng bản địa đã ăn sâu trong tâm hồn dân Việt tạo nên nếp sống văn hóa đặc trưng của miền vùng. Theo xu thế phát triển của xã hội, hoạt động Phật giáo tại miền vùng Tây Thiên, Tam Đảo đặc biệt là mức độ nhập thế của Phật giáo tại địa phương ngày càng được chú trọng và phát huy thì sự tham gia của Phật tử vào những hoạt động cộng đồng của Phật giáo nhập thế trong hoạt động giáo dục và hoạt động từ thiện như thế nào? Những thuận lợi khó khăn của Phật tử khi tham gia vào những hoạt động phát triển cộng đồng đó? Vì lý do trên, xin thực hiện đề tài nghiên cứu: “thực trạng tham gia của Phật tử vào hoạt động phát triển cộng đồng của Phật giáo nhập thế”. Mục tiêu nghiên cứu 1.
Mục tiêu chung - Tìm hiểu thực trạng tham gia của Phật tử vào hai hoạt động phát triển cộng đồng (phát triển giáo dục và từ thiện) của Phật giáo nhập thế tại thị trấn Đại Đình - huyện Tam Đảo - tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu đặc điểm nhân khẩu học của Phật tử tham gia vào các hoạt động phát triển cộng đồng của Phật giáo nhập thế tại thị trấn Đại Đình - huyện Tam Đảo - tỉnh Vĩnh Phúc. - Tìm hiểu tình hình tham gia của Phật tử vào hai hoạt động phát triển cộng đồng (giáo dục cho phật tử và hoạt động của phật tử với cộng đồng) của Phật giáo nhập thế tại thị trấn Đại Đình - huyện Tam Đảo – tỉnh Vĩnh Phúc. - Tìm hiểu thuận lợi và khó khăn của Phật tử khi tham gia vào hai hoạt động phát triển cộng đồng (giáo dục cho phật tử và hoạt động của phật tử với cộng đồng) của Phật giáo nhập thế tại thị trấn Đại Đình - huyện Tam Đảo – tỉnh Vĩnh Phúc.
Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu - Thực trạng tham gia của Phật tử vào hai hai hoạt động phát triển cộng đồng (giáo dục cho phật tử và hoạt động của phật tử với cộng đồng) của Phật giáo nhập thế (Nghiên cứu tại thị trấn Đại Đình, huyện Tam Đảo – tỉnh Vĩnh Phúc). Khách thể nghiên cứu - Phật tử các chùa thuộc thị trấn Đại Đình huyện Tam Đảo – tỉnh Vĩnh Phúc. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi nội dung: Hoạt động phát triển cộng đồng của Phật giáo nhập thế được thể hiện trên rất nhiều lĩnh vực như chính trị, văn hóa, kinh tế, bảo vệ môi trường… Trong đề tài này, hoạt động của Phật tử được phân tích tập trung ở hai lĩnh vực chính là hoạt động giáo dục Phật giáo và hoạt động từ thiện nhân đạo.
Trong hoạt động giáo dục Phật giáo tìm hiểu sự tham gia của cộng đồng Phật tử trong các khoá học và khoá tu Phật Pháp cũng như thuận lợi, khó khăn của họ khi tham gia các hoạt động trên. Đối với hoạt động từ thiện nhân đạo mà Phật giáo tổ chức, tìm hiểu tình hình các Phật tử tham gia trong hai hình thức là thực hiện những chuyến đi từ thiện và trực tiếp tại cơ sở từ thiện hướng đến cộng đồng dân cư những hoàn cảnh khó khăn để từ thiện. - Phạm vi không gian: thị trấn Đại Đình - huyện Tam Đảo - tỉnh Vĩnh Phúc. - Phạm vi thời gian: Nghiên cứu tài liệu được thu thập từ 1990 đến nay.
Thu thập thông tin sơ cấp, xử lý thông tin, viết báo cáo được thực hiện từ tháng 12/2021 đến tháng 03/2022. Thời gian thực hiện đề tài là từ tháng 8/2021 – 3/2022. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Các lý thuyết nền cho đề tài nghiên cứu 2.
Lý thuyết cấu trúc chức năng Thuyết cấu trúc chức năng ra đời vào những năm 40, 50 của thế kỉ XX, gắn liền với các nhà xã hội học như Emily Durkheim, Tacott Parsons, Robert Merton, Auguste Comte, Herbert Spencer, Vilfredo Pareto, Bronislaw Malinowski và nhiều nhà xã hội học khác. Luận điểm gốc của lý thuyết cho rằng với bất kỳ một hệ thống ổn định nào cũng bao gồm những bộ phận khác nhau nhưng liên hệ chặt chẽ với nhau, chúng cùng nhau vận hành để tạo nên cái toàn bộ, tạo nên sự ổn định hệ thống. Sự đóng góp của các bộ phận tạo nên sự vận hành ổn định hệ thống được gọi là chức năng và mỗi bộ phận đều có các chức năng khác nhau đối với hệ thống. Các luận điểm gốc của thuyết này nhấn mạnh tính cân bằng, ổn định và khả năng thích nghi của cấu trúc.
Tuy những đóng góp trong lý luận xã hội học của nhiều tác giả là khác nhau nhưng đều thống nhất ở chỗ cho rằng để giải thích sự tồn tại và vận hành của xã hội cần phân tích cấu trúc - chức năng, tức là chỉ ra các thành phần cấu thành và các cơ chế hoạt động của chúng. Thuyết chức năng hướng vào giải quyết những vấn đề cơ bản về bản chất của cấu trúc xã hội và hệ quả của cấu trúc xã hội, đòi hỏi phải tìm hiểu cơ chế hoạt động của từng thành phần để biết chúng có chức năng, tác dụng gì đối với sự tồn tại một cách cân bằng, ổn định của cấu trúc xã hội (Tô Duy Hợp, 2005). Nhìn về phương diện tôn giáo, tất cả mọi người đều có tín ngưỡng, phần lớn theo quan điểm chức năng luận. Do vậy, bất cứ cái gì thể hiện chức năng bộc lộ và tạo nên các giá trị và khế ước xã hội để duy trì xã hội đều là tôn giáo.
Theo Yinger: Tôn giáo là một hệ thống những niềm tin và thực hành mà nhờ đó các nhóm người đương đầu với các vấn đề tối hậu/cơ bản của cuộc sống.