MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Vị thành niên (VTN) theo Tổ chức Y tế thế giới là người từ 10 đến 19 tuổi. Đây là thời kỳ phát triển nhanh về thể chất và trí tuệ, đồng thời là thời kỳ phát triển và hình thành nhân cách con người. Tuy nhiên nhiều yếu tố tâm lý chưa hình thành vững chắc nên dễ có những hành vi bồng bột có hại cho bản thân và xã hội.
Trong nhiều năm qua, đối mặt với những thách thức của sự bùng nổ dân số, đại dịch HIV/AIDS và tỷ lệ nạo phá thai đáng báo động, đặc biệt là trong nhóm thanh niên và VTN, Đảng và Nhà nước cũng đã và đang quan tâm nhiều hơn đến chủ đề SKSS, tình yêu, tình dục của VTN/TN. Tuy nhiên, trên thực tế, những nội dung thông tin được coi là có “liên quan” đến tình dục thì mới chủ yếu nằm trong khuôn khổ các nỗ lực tuyên truyền cho công tác dân số hoặc phòng chống các tệ nạn xã hội. Trước Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển tổ chức tại Cairo năm 1994, đối tượng chủ yếu của những nội dung tuyên truyền này chỉ là các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ. VTN chỉ thực sự được coi là một trong các nhóm đối tượng chính sách quan trọng sau Hội nghị này.
Họ được xác định là một trong các nhóm có “hành vi nguy cơ cao” ảnh hưởng đến sự phát triển chung của đất nước. Hiện nay, tình trạng VTN kết hôn sớm, quan hệ tình dục sớm, mang thai ngoài ý muốn, tỷ lệ nạo phá thai cao, mắc các bệnh lây qua đường tình dục kể cả lây nhiễm HIV/AIDS, vi phạm pháp luật ở vị thành niên đang là thách thức lớn của đất nước. Vị thành niên ở Việt Nam chiếm tỷ lệ lớn trong dân số, năm 1999 có 17,4 triệu người, chiếm 22,7% dân số cả nước; năm 2002 tỷ lệ này đã tăng lên 23,8% dân số. Hiện nay, trẻ vị thành niên (từ 10 đến 17 tuổi) có khoảng 23,8 triệu người, chiếm 31% dân số.
Theo thống kê của Hội Kế hoạch hoá gia đình thì Việt Nam là một trong ba nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới (1,2 - 1,6 triệu ca mỗi năm) trong đó 20% thuộc lứa tuổi vị thành niên. Theo số liệu điều tra gần đây của Ủy ban Dân số Gia đình và Trẻ em thì độ tuổi trung bình cho lần quan hệ đầu tiên là 19 tuổi. Bên cạnh đó, theo ước tính cứ một triệu ca nạo phá thai thì có gần 30% xảy ra với thanh niên và phụ nữ chưa kết 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Số trường hợp có thai và sinh con trong nhóm tuổi từ 15 đến 20 dự báo sẽ lên tới đỉnh năm 2010.
Chính bằng những hiểu biết và thái độ, hành vi bảo vệ sức khoẻ sinh sản của chính vị thành niên; thái độ đánh giá, nhìn nhận hành vi QHTD ở lứa tuổi vị thành niên của cộng đồng đặc biệt là các bậc cha mẹ thông qua việc giáo dục SKSS, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của lứa tuổi đang chập chững bước vào đời (VTN) sẽ giúp nâng cao nhận thức của VTN về SKSS, giảm phần nào tỷ lệ nạn nạo phá thai, sinh con ngoài ý muốn, các bệnh lây qua đường tình dục… ở lứa tuổi VTN. Vì vậy thái độ đánh giá, sự tham gia của cộng đồng trong việc chăm sóc SKSS VTN, nâng cao nhận thức và hành vi đối với vấn đề tình dục và QHTD là có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Sự tham gia của cộng đồng không những có tác động to lớn trong việc giáo dục VTN mà còn góp phần thay đổi thái độ nhìn nhận, đánh giá của chính họ trong việc giáo dục trẻ VTN biết cách bảo vệ SKSS của bản thân và cộng đồng. Chính vì vậy mà việc tìm hiểu thái độ xã hội đối với hành vi quan hệ tình dục của vị thành niên là việc làm hết sức cần thiết, góp phần đưa ra một cái nhìn tổng quan (mức độ tán thành hay phản đối) về vấn đề này, giúp các nhà hoạch định chính sách, những nhà quản lý đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm hạn chế những rủi ro trong việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản vị thành niên.
Chính vì thái độ xã hội có cấu trúc nhiều chiều, đa thành tố nên thông qua đó ta có thể thấy được các tác nhân văn hoá, xã hội, xã hội hoá của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập và giao lưu kinh tế toàn cầu ảnh hưởng đến nhân cách và hành vi bảo vệ sức khoẻ về thể lực và trí lực của vị thành niên. Thái độ xã hội có chức năng đánh giá và điều hoà các quan hệ xã hội. Do vậy việc phân tích thái độ xã hội đối với hành vi quan hệ tình dục của vị thành niên sẽ mang lại một cái nhìn tổng quan về mức độ đánh giá của cộng đồng từ đó góp phần đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiểu biết của vị thành niên và quản lý giáo dục vị thành niên biết cách bảo vệ bản thân trước những cám dỗ của môi trường xã hội. Đó cũng chính là lý do tôi chọn đề tài “Thái độ xã hội đối với hành vi quan hệ tình dục của vị thành niên (Nghiên cứu trường hợp tại xã Liêm Cần - huyện Thanh Liêm - tỉnh Hà Nam và phường Đồng Xuân - quận Hoàn Kiếm - Hà Nội)”.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 2. Ý nghĩa lý luận Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi không nhằm đưa ra một lý thuyết hay phạm trù mới mà thông qua nghiên cứu này cho thấy khả năng vận dụng lý thuyết gán nhãn, lý thuyết xã hội hóa để giải thích nguyên nhân tạo nên thái độ xã hội đối với hành vi quan hệ tình dục của vị thành niên, thực trạng thái độ của xã hội, các tác động xã hội chi phối hành vi quan hệ tình dục và khả năng bảo vệ bản thân khỏi cám dỗ của điều kiện môi trường xã hội, biết cách bảo vệ mình và bảo vệ cộng đồng. Ý nghĩa thực tiễn Nghiên cứu tìm hiểu thực trạng thái độ đánh giá (mức độ ủng hộ, tán thành hay phản đối…) của cộng đồng đối với hành vi quan hệ tình dục cũng như về sự hạn chế trong việc giáo dục nhân cách và sự phát triển toàn diện của vị thành niên, để góp phần vào việc điều chỉnh chính sách, chương trình giáo dục sức khoẻ sinh sản của Nhà nước, tổ chức, đoàn thể xã hội giúp hạn chế những hậu quả do quan hệ tình dục khi không có đủ kiến thức hiểu biết bảo vệ sức khoẻ bản thân và cộng đồng.
Nghiên cứu này có ý nghĩa thực tiễn là thông qua thái độ nhìn nhận, đánh giá của cộng đồng - như là một kênh để truyền tải những thông tin xác thực nhất về ý kiến đánh giá hành vi QHTD của VTN và hậu quả của việc quan hệ tình dục cũng như những tác động tâm lý từ việc quan hệ tình dục đến vị thành niên. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu thái độ xã hội đối với hành vi quan hệ tình dục của vị thành niên nhằm tìm hiểu thực trạng thái độ đánh giá (ủng hộ, tán thành hay phản đối) của xã hội đối với hành vi quan hệ tình dục của VTN, đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức của vị thành niên về việc bảo vệ bản thân và cộng đồng. Nhiệm vụ nghiên cứu - Vận dụng khái niệm thái độ xã hội và các khái niệm, các lý thuyết liên quan vào nghiên cứu và phân tích thái độ xã hội đối với hành vi quan hệ tình dục của vị thành niên.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Đề xuất một số biện pháp tác động thông qua thái độ đánh giá của cộng đồng góp phần nâng cao nhận thức của vị thành niên về tình dục và các biện pháp chăm sóc sức khoẻ sinh sản; nâng cao nhận thức của cộng đồng về việc đánh giá, nhìn nhận hành vi quan hệ tình dục của vị thành niên. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4. Đối tượng nghiên cứu Thái độ xã hội đối với hành vi quan hệ tình dục của vị thành niên. Khách thể nghiên cứu Khách thể nghiên cứu chính là người dân ở cộng đồng.
Phạm vi nghiên cứu a. Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trên phạm vi xã Liêm Cần - huyện Thanh Liêm - tỉnh Hà Nam và phường Đồng Xuân - quận Hoàn Kiếm - Hà Nội. Thời gian nghiên cứu: năm 2010. Câu hỏi nghiên cứu Trong điều kiện kinh tế - văn hoá - xã hội hiện nay thái độ xã hội đối với hành vi QHTD của VTN như thế nào? Có sự khác biệt gì giữa nông thôn và đô thị trong đánh giá về vấn đề này? 6.
Giả thuyết nghiên cứu - Các đặc điểm nhân khẩu học có ảnh hưởng đến thái độ đánh giá của xã hội đối với hành vi quan hệ tình dục của vị thành niên. Nam giới có xu hướng tán thành nhiều hơn nữ giới. - Nông thôn và đô thị có sự khác biệt trong thái độ đánh giá hành vi QHTD của VTN trên các mức độ ủng hộ, tán thành hay phản đối. Phƣơng pháp nghiên cứu 7.
Phương pháp luận - Phương pháp luận chung: Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. - Vận dụng một số lý thuyết: + Lý thuyết xã hội hóa 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Lý thuyết gán nhãn 7. Phương pháp nghiên cứu cụ thể 7. Phương pháp nghiên cứu định lượng Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng trong luận văn là điều tra chọn mẫu với bảng hỏi cấu trúc.
Nội dung của bảng hỏi được chia làm 3 nhóm chủ đề sau: - Hiểu biết về SKSS và QHTD - Thái độ xã hội đối với hành vi QHTD của VTN - Thông tin cá nhân Để đảm bảo tính đại diện của thông tin, mẫu nghiên cứu của luận văn được chọn theo phương pháp phân cụm theo khu vực địa lý-kinh tế-hành chính cùng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên và chọn mẫu phân tầng tại cơ sở. Luận văn áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích. Địa bàn nghiên cứu được chọn là phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội đại diện cho khu vực đô thị và xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam đại diện cho khu vực nông thôn. Ở mỗi điểm nghiên cứu tiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên các hộ gia đình.