Thái Độ Của Sinh Viên Khoa Hàn Quốc Học Đối Với Chữ Nôm Tại Trường ĐH Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn

Bài viết phân tích thái độ của sinh viên khoa Hàn Quốc học tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh đối với chữ Nôm.

Chuyên ngành

Khoa Hàn Quốc học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo

2023

99
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

1.3. Đối tượng nghiên cứu

1.4. Khách thể nghiên cứu

1.5. Phạm vi nghiên cứu

1.6. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu

1.6.1. Mục đích nghiên cứu

1.6.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.7. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

1.7.1. Ý nghĩa lý luận

1.7.2. Ý nghĩa thực tiễn

1.8. Kết cấu của đề tài

2. PHẦN 2: NỘI DUNG

2.1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1.2. Tổng quan về các chính sách, văn bản luật liên quan đến chữ Nôm

2.1.3. Tổng quan về số lượng các ấn phẩm chữ Nôm hiện nay

2.1.4. Tổng quan nghiên cứu về tác phẩm văn thơ chữ Nôm tiêu biểu

2.1.5. Tổng quan các công trình nghiên cứu về giá trị của chữ Nôm hiện nay

2.1.6. Tổng quan các công trình nghiên cứu về nhu cầu học chữ Nôm trong xã hội hiện nay

2.1.7. Câu hỏi nghiên cứu

2.1.8. Giả thuyết nghiên cứu

2.1.9. Cách tiếp cận, lý thuyết áp dụng và các khái niệm có liên quan

2.1.9.1. Cách tiếp cận theo mô hình KAB
2.1.9.2. Lý thuyết học tập xã hội
2.1.9.3. Lý thuyết động cơ học ngoại ngữ
2.1.9.4. Lý thuyết trao đổi xã hội
2.1.9.5. Các khái niệm có liên quan
2.1.9.5.1. Khái niệm kiến thức
2.1.9.5.2. Khái niệm thái độ
2.1.9.5.3. Khái niệm hành vi
2.1.9.5.4. Phân loại hành vi
2.1.9.5.5. Các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi
2.1.9.5.6. Khái niệm chữ Nôm
2.1.9.5.7. Khái niệm sinh viên
2.1.9.5.8. Khái niệm sinh viên Khoa Hàn Quốc học
2.1.9.5.9. Đặc điểm của sinh viên khoa Hàn Quốc học

2.1.10. Mô hình khung phân tích

2.1.11. Phương pháp nghiên cứu

2.1.11.1. Phương pháp chọn mẫu
2.1.11.2. Công cụ thu thập thông tin
2.1.11.3. Phương pháp xử lý thông tin

2.2. CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN KHOA HÀN QUỐC HỌC HIỆN NAY VỚI CHỮ NÔM

2.2.1. Tổng quan hiểu biết của sinh viên khoa Hàn Quốc học trường ĐHKHXH&NV về chữ Nôm

2.2.2. Chính sách, văn bản luật đối với chữ Nôm

2.2.3. Số lượng các ấn phẩm chữ Nôm

2.2.4. Tác phẩm văn thơ chữ Nôm tiêu biểu

2.2.5. Giá trị của chữ Nôm

2.2.6. Nhu cầu học chữ Nôm trong xã hội

2.2.7. Thái độ và hành vi của sinh viên khoa Hàn Quốc học trường ĐH KHXH&NV về chữ Nôm

2.2.8. Chính sách, văn bản luật đối với chữ Nôm

2.2.9. Số lượng các ấn phẩm chữ Nôm

2.2.10. Tác phẩm văn thơ chữ Nôm tiêu biểu

2.2.11. Giá trị của chữ Nôm

2.2.12. Nhu cầu học chữ Nôm trong xã hội hiện nay

2.2.13. Yếu tố tác động đến thái độ của sinh viên khoa Hàn Quốc học trường ĐHKHXH&NV về chữ Nôm

2.2.13.1. Yếu tố khách quan
2.2.13.2. Yếu tố chủ quan

2.3. CHƯƠNG 3: SO SÁNH THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM KHOA HÀN QUỐC HỌC HIỆN NAY VỀ CHỮ NÔM VỚI THÁI ĐỘ SINH VIÊN HÀN QUỐC VỀ CHỮ HÁN (HÀN CỔ)

2.3.1. Kết quả thống kê về mức độ hiểu biết của sinh viên Hàn Quốc với chữ Hán

2.3.2. Kết quả thống kê về thái độ của sinh viên Hàn Quốc với chữ Hán

2.3.3. Kết quả thống kê về yếu tố tác động của sinh viên Hàn Quốc với chữ Hán

2.3.3.1. Yếu tố khách quan
2.3.3.2. Yếu tố chủ quan

2.3.4. Phân tích tổng quát so sánh

2.3.4.1. Đối với mức độ hiểu biết
2.3.4.2. Đối với thái độ
2.3.4.3. Đối với các yếu tố tác động

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Thái Độ Của Sinh Viên Khoa Hàn Quốc Học Đối Với Chữ Nôm

Chữ Nôm là một phần quan trọng trong di sản văn hóa Việt Nam, phản ánh lịch sử và bản sắc dân tộc. Tuy nhiên, thái độ của sinh viên khoa Hàn Quốc học tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đối với chữ Nôm hiện nay đang là một vấn đề đáng quan tâm. Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu và phân tích thái độ của sinh viên, từ đó đưa ra những giải pháp khuyến khích việc học và sử dụng chữ Nôm.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Chữ Nôm Trong Văn Hóa Việt Nam

Chữ Nôm không chỉ là phương tiện ghi chép mà còn là biểu tượng văn hóa của dân tộc. Nó giúp lưu giữ các tác phẩm văn học, lịch sử và truyền thống của người Việt. Việc hiểu biết về chữ Nôm sẽ giúp sinh viên có cái nhìn sâu sắc hơn về văn hóa Việt Nam.

1.2. Thực Trạng Hiện Nay Về Chữ Nôm Trong Giới Trẻ

Hiện nay, chữ Nôm đang dần bị lãng quên trong giới trẻ, đặc biệt là sinh viên. Nhiều người không có cơ hội tiếp xúc với chữ Nôm, dẫn đến việc thiếu hiểu biết và quan tâm đến di sản văn hóa này.

II. Vấn Đề Thách Thức Đối Với Chữ Nôm Trong Giáo Dục

Chữ Nôm không được giảng dạy rộng rãi trong hệ thống giáo dục hiện nay, điều này tạo ra nhiều thách thức cho việc bảo tồn và phát triển chữ Nôm. Cần có những chính sách và chương trình giáo dục phù hợp để nâng cao nhận thức của sinh viên về giá trị của chữ Nôm.

2.1. Thiếu Chương Trình Giảng Dạy Chữ Nôm

Chữ Nôm không được đưa vào chương trình giảng dạy chính thức, dẫn đến việc sinh viên không có cơ hội học tập và tìm hiểu về loại chữ viết này. Điều này cần được khắc phục để bảo tồn di sản văn hóa.

2.2. Sự Thiếu Quan Tâm Từ Phía Sinh Viên

Nhiều sinh viên hiện nay không nhận thức được tầm quan trọng của chữ Nôm, dẫn đến việc họ không có động lực để tìm hiểu và học hỏi về loại chữ viết này. Cần có các hoạt động khuyến khích sinh viên tham gia.

III. Phương Pháp Nâng Cao Thái Độ Của Sinh Viên Đối Với Chữ Nôm

Để nâng cao thái độ của sinh viên khoa Hàn Quốc học đối với chữ Nôm, cần áp dụng các phương pháp giáo dục sáng tạo và hiệu quả. Các hoạt động ngoại khóa, hội thảo và triển lãm có thể giúp sinh viên hiểu rõ hơn về giá trị của chữ Nôm.

3.1. Tổ Chức Các Hoạt Động Ngoại Khóa

Các hoạt động ngoại khóa như hội thảo, triển lãm về chữ Nôm sẽ giúp sinh viên có cơ hội tiếp xúc và tìm hiểu về loại chữ viết này. Điều này sẽ tạo ra sự hứng thú và khuyến khích sinh viên tham gia.

3.2. Khuyến Khích Nghiên Cứu Chữ Nôm

Khuyến khích sinh viên tham gia vào các dự án nghiên cứu về chữ Nôm sẽ giúp họ hiểu rõ hơn về giá trị và ý nghĩa của loại chữ viết này. Điều này cũng góp phần nâng cao nhận thức và thái độ tích cực đối với chữ Nôm.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Chữ Nôm Trong Đời Sống Hiện Đại

Chữ Nôm không chỉ có giá trị lịch sử mà còn có thể được ứng dụng trong đời sống hiện đại. Việc sử dụng chữ Nôm trong các hoạt động văn hóa, nghệ thuật sẽ giúp bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa này.

4.1. Sử Dụng Chữ Nôm Trong Nghệ Thuật

Chữ Nôm có thể được sử dụng trong các tác phẩm nghệ thuật, từ thơ ca đến hội họa, giúp tạo ra những sản phẩm văn hóa độc đáo và mang đậm bản sắc dân tộc.

4.2. Tích Hợp Chữ Nôm Vào Các Hoạt Động Văn Hóa

Việc tích hợp chữ Nôm vào các hoạt động văn hóa như lễ hội, triển lãm sẽ giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của chữ Nôm và khuyến khích việc sử dụng loại chữ viết này.

V. Kết Luận Về Thái Độ Của Sinh Viên Đối Với Chữ Nôm

Thái độ của sinh viên khoa Hàn Quốc học đối với chữ Nôm hiện nay cần được cải thiện. Cần có những biện pháp cụ thể để nâng cao nhận thức và khuyến khích sinh viên tìm hiểu về chữ Nôm, từ đó bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa này.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Việc Bảo Tồn Chữ Nôm

Bảo tồn chữ Nôm không chỉ là trách nhiệm của các nhà nghiên cứu mà còn là nhiệm vụ của toàn xã hội. Mỗi cá nhân cần có ý thức và trách nhiệm trong việc gìn giữ di sản văn hóa này.

5.2. Hướng Tới Tương Lai Của Chữ Nôm

Trong bối cảnh hiện đại, việc phát triển và ứng dụng chữ Nôm là cần thiết. Cần có những chính sách và chương trình cụ thể để khôi phục và phát huy giá trị của chữ Nôm trong đời sống xã hội.

10/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Từ thế kỷ XII, người Việt xưa đã bắt đầu sáng tạo nên một loại chữ viết dùng để ghi chép tiếng mẹ đẻ của mình, gọi là chữ Nôm, có bề dày lịch sử và phản ánh một giai đoạn văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc. Tuy nhiên, di sản này hiện nay đang có nguy cơ tiêu vong. Sau khi chữ Quốc ngữ trở nên phổ biến vào đầu thế kỷ XX, chữ Nôm đã dần dần bị mai một.

Ngày nay có rất ít người đọc và hiểu được chữ Nôm, khiến phát minh mang ý nghĩa lớn trong lịch sử Việt Nam này nằm ngoài tầm tay của hơn 100 triệu người Việt. Chữ Nôm hiện nay không được giảng dạy đại trà trong hệ thống giáo dục phổ thông Việt Nam, tuy nhiên nó vẫn nằm trong chương trình giáo dục và nghiên cứu của các chuyên ngành về Hán – Nôm tại bậc đại học. Khoa Hán – Nôm của các trường đại học chuyên về lĩnh vực khoa học xã hội ngày nay vẫn đang đào tạo các cử nhân để thực hiện nhiệm vụ làm cầu nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai dân tộc nhằm hạn chế hiện tượng “đứt gãy lịch sử” này. Tổng quan về các chính sách, văn bản luật liên quan đến chữ Nôm Theo nội dung thuộc thông tư của Bộ trưởng Bộ Văn hoá số 05-VH-TV ngày 21 tháng 2 năm 1964 về việc bảo vệ sách và tài liệu chữ Hán, chữ Nôm đã quy định nội dung công tác bảo vệ sách và tài liệu chữ Hán, chữ Nôm bao gồm những việc cụ thể như tuyên truyền, giải thích về mục đích ý nghĩa và phương châm tiến hành để nhân dân phát nhu cầu của công tác nghiên cứu, khai thác hoặc bảo vệ.

Đối với những sách và tài liệu thuộc diện quản lý của Nhà nước nhưng do nhân dân bảo quản, những người có những thứ ấy và những người được giao cho giữ những thứ ấy có nhiệm vụ như sau: Phải giữ gìn, bảo quản chu đáo theo sự hướng dẫn của Ty, Sở văn hoá. Sẵn sàng cho người có giấy giới thiệu của Bộ Văn hoá (Thư viện Quốc gia Trung ương) hoặc Ty, Sở văn hoá đến xem, sao chép hoặc nghiên cứu. 7 lOMoARcPSD|17917457 Nếu muốn bán thì phải được Uỷ ban hành chính tỉnh, thành phố cho phép; trong trường hợp này Nhà nước có quyền mua ưu tiên. Nếu để hư hỏng hoặc mất thì phải báo ngay cho Uỷ ban hành chính xã, tỉnh, thành phố biết ngay để mở những cuộc điều tra cần thiết và có những biện pháp thích ứng.

Người được mượn sử dụng phải chịu trách nhiệm giữ gìn, bảo quản chu đáo, không để hư hỏng, không được sửa chữa hoặc viết thêm gì vào đấy, sau khi dùng xong phải trả lại ngay và phải trả đúng thời hạn. Để ngăn chặn việc huỷ hoại những sách và tài liệu chữ Hán, chữ Nôm, cùng với công tác vận động đối với những người có những sách và tài liệu ấy, các Uỷ ban hành chính tỉnh và thành phố cần áp dụng những biện pháp sau đây đối với những người làm nghề thu mua, vận chuyển sách và giấy cũ và những cơ sở dùng giấy cũ làm nguyên liệu sản xuất (làm giấy, bồi tranh, bồi quạt, đúc đồng. Đặt chế độ kiểm soát việc mua bán và chuyển vận những sách và tài liệu Hán – Nôm cũ, như người đi mua và chuyển vận phải có giấy phép của Uỷ ban hành chính tỉnh hay huyện,… Đặt chế độ kiểm soát việc sử dụng ở những cơ sở sản xuất vẫn dùng những thứ này làm nguyên liệu, như trước khi chế biến phải báo cáo cho Uỷ ban hành chính huyện hoặc xã biết để xem có những sách hoặc giấy tờ gì cần giữ lại (Nhà nước sẽ bồi hoàn lại cho cơ sở sản xuất mọi chi phí về những thứ này). Tuyên truyền giải thích để họ cũng có ý thức bảo vệ sách và tài liệu chữ Hán, chữ Nôm.

Nhìn chung, Bộ Văn hóa đã đưa ra được phương pháp bảo toàn và gìn giữ di sản văn hóa chữ Nôm, nêu được giải pháp khắc phục tình trạng khai thác và lưu thông bất hợp pháp chữ Nôm. Tuy nhiên, các giải pháp đã đưa ra vẫn chưa thể đảm bảo hoàn toàn được độ bảo tồn đối với chữ Nôm, chỉ tập trung chủ yếu ngăn chặn hành vi sử dụng tài liệu trái phép, chưa đưa ra được giải pháp bảo toàn và phát triển hơn cho việc tăng giá trị và tần suất sử dụng chữ Nôm trong xã hội. Hiện tại, chữ Nôm không quá phổ biến, chỉ còn xuất hiện ở một vài vùng cao nơi tập trung những dân tộc thiểu số 8 lOMoARcPSD|17917457 như dân tộc Dao, Tày, Khmer,… Do vậy, việc tuyên truyền và vận động người dân vùng đồng bằng chủ động trong công tác bảo vệ và phát triển loại hình di sản văn hóa chữ viết như chữ Nôm vẫn chưa khả quan, có thể nguyên nhân là do đa phần người dân chưa được tiếp xúc nhiều với chữ Nôm như người dân tộc thiểu số vùng cao, chưa ý thức được rằng việc bảo tồn và duy trì chữ viết góp phần quan trọng rất lớn cho những tư liệu lịch sử để thế hệ sau có thể kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc. Dựa vào những thông tin trên, Bộ và Sở nên có những chính sách cụ thể hơn có tỷ lệ tuân thủ và thực hiện cao hơn, khảo sát tình hình và sưu tầm tư liệu phát triển của nơi xuất hiện chữ Nôm, từ đó có thể đưa ra giải pháp phù hợp với từng địa phương, từng dân tộc.

Tổng quan về số lượng các ấn phẩm chữ Nôm hiện nay Các cơ quan nghiên cứu, các Sở, Ty Văn hoá, thư viện ở miền Bắc đã sưu tầm và thu thập được một khối lượng lớn tư liệu chữ Hán, chữ Nôm, bao gồm hàng vạn các đầu sách và tài liệu khác. Sau khi thống nhất đất nước, chúng ta lại tiếp quản thêm một số lượng sách và tài liệu chữ Hán, chữ Nôm trong các kho sách và thư viện ở các tỉnh miền Nam. Ban Hán, Nôm của Ủy ban Khoa học xã hội được thành lập năm 1970, đã cố gắng tiến hành giám định các văn bản chữ Hán, chữ Nôm và biên dịch ra tiếng Việt nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác. Song, trong đó, phần lớn tư liệu chữ Hán, chữ Nôm chưa được biên dịch và xuất bản; nhiều tư liệu chữ Hán, chữ Nôm khác chưa được giám định.

Trong lịch sử, về văn bản thì khi tìm chứng tích trước thời nhà Lý, văn tịch hoàn toàn không lưu lại dấu vết chữ Nôm nào cả, trước đó thì phải sang thời nhà Trần mới có dấu tích rõ ràng. Kể từ thời Lê về sau số lượng sáng tác bằng chữ Nôm tăng dần trong suốt 500 năm từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19. Viện Nghiên cứu Hán Nôm ở Hà Nội hiện đang quản lý 5.038 đầu sách và khoảng 30.000 đơn vị tư liệu bao gồm các loại như phim, ảnh, bản rập các bài văn khắc trên bia đá, chuông đồng, khánh đá, biển gỗ. Ngoài ra còn có những sách Hán Nôm, Châu bản triều Nguyễn, địa bộ, sắc thần, bia đá, thơ, câu đối, hoành phi v.v… hiện còn rải rác trong dân chúng, ở các cung điện, lăng tẩm, đình chùa, các thư viện và cơ quan lưu trữ khác ở trong nước, các thư viện ở nước ngoài.

Về chủng loại, theo Trần Nghĩa và F.Gros, trong số 5.038 đầu sách do Viện Nghiên cứu Hán Nôm quản lý, 9 lOMoARcPSD|17917457 có khoảng 2.500 tác phẩm liên quan tới văn học; 1.000 tác phẩm liên quan tới sử học; 600 tác phẩm liên quan tới tôn giáo; 450 tác phẩm liên quan tới văn hoá, giáo dục; 350 tác phẩm thuộc các lĩnh vực chính trị, xã hội; 300 tác phẩm thuộc các lĩnh vực y dược, vệ sinh; 300 tác phẩm thuộc lĩnh vực địa lý; 250 tác phẩm thuộc lĩnh vực pháp chế; 80 tác phẩm thuộc lĩnh vực nghệ thuật; 70 tác phẩm thuộc lĩnh vực kinh tế; 60 tác phẩm thuộc các lĩnh vực ngôn ngữ, văn tự; 50 tác phẩm thuộc lĩnh vực toán lý; 40 tác phẩm thuộc lĩnh vực quân sự, quốc phòng, và một số lượng ít hơn bàn về kiến trúc, nông nghiệp, tiểu thủ công, hoặc mang tính tổng hợp1. Thông qua các chính sách của Nhà nước về việc bảo tồn các tài liệu Hán – Nôm cùng với số lượng ấn phẩm chữ Nôm đã được thống kê hiện nay, có thể thấy chính phủ đã ban hành khá cụ thể những biện pháp nhằm lưu giữ, bảo vệ những công trình khảo cổ các ấn phẩm còn lại. Tuy nhiên, trên thực tế, công tác giữ gìn và khai thác các tư liệu chữ Hán, chữ Nôm vẫn còn nhiều thiếu sót. Khối lượng sách và tài liệu chữ Hán, chữ Nôm chưa được thu thập vẫn còn lớn, nhất là ở khu vực phía Nam, các tác phẩm chữ Nôm tiếp tục bị mất hoặc hư hỏng.

Những quyển sách và tài liệu chữ Nôm đã thu thập cũng chưa được quản lý một cách thống nhất, còn phân tán ở nhiều cơ quan và thư viện. Để công tác phát huy giá trị tài liệu Hán Nôm tại các thư viện có hiệu quả cao, cũng như khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong việc tổ chức khai thác, sử dụng vốn tài liệu này, trước tiên phải xây dựng và hệ thống một cách khoa học, rõ ràng và hiệu quả các chính sách quản lý và bảo vệ tài liệu chữ Nôm. Nhờ vào đó các chính sách phát triển giá trị các tài liệu chữ Nôm và các công tác tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu tài liệu Hán Nôm sau đó mới có được hiệu quả nhất định. Tổng quan nghiên cứu về tác phẩm văn thơ chữ Nôm tiêu biểu Sự ra đời của chữ Nôm đã đáp ứng được phần nào nhu cầu phát triển của nền văn hóa dân tộc, giai đoạn nước Đại Việt vững bước trong kỷ nguyên độc lập, tự chủ và thống nhất.

Ở thời nhà Lý, chữ Nôm xuất hiện trong các văn bản chỉ đơn thuần là những từ ghi tên người hay tên đất có thể thấy trên các văn bia còn lưu giữ được; nhưng sang thời nhà Trần thì đã phát triển thịnh hành và bắt đầu dùng trong ghi chép trước thuật để tạo nên văn học chữ Nôm. Nghiên cứu Hán Nôm đối với văn hóa Việt Nam. Khoa Văn học trường Đại học KHXH&NV - ĐHQG TP.HCM 10 lOMoARcPSD|17917457 Vào thời Trần (1225 – 1400), theo các tài liệu đã công bố, ở Việt Nam còn lưu giữ được một số văn bản được xem là tác phẩm văn học viết bằng chữ Nôm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ