Chương 1 TỎNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ THÁI ĐỘ CÚA PHẠM NHÂN VỚI VIỆC CHÁP HÀNH ÁN PHẠT TÙ Thái độ (attitude) đề cập đến đánh giá tổng thể của chúng ta về con người, các nhóm và đối tượng trong thế giới xã hội của chúng ta. Thái độ rất quan trọng bởi vì chúng ảnh hưởng đến cả cách chúng ta nhận thức thể giới và các chúng ta cư xử. Trên thực té, hon 70 nam truéc, Gordon Allport khang định rằng khái niệm thái độ là khái niệm không thê thiếu nhất trong tâm lý xã hội [55]. Bản tuyên bố đó vẫn giữ nguyên ngày hôm nay, nghiên cứu về thái độ vẫn giữ vai trò tiên phong trong nghiên cứu và lý thuyết tâm lý xã hội.
Thái độ được xem như là một trong những nội dung trọng tâm của Tâm lý học. Ngay từ đầu thế kỷ XX, thái độ đã được nghiên cứu một cách nghiêm túc và khoa học trên cả hai lĩnh vực: lý luận và thực tiễn. Có rất nhiều trường phái với nhiều hướng tiếp cận khác nhau khi nghiên cứu thái độ trên lĩnh vực tâm lý học. Một số hướng tiếp cận nghiên cứu về thái độ nói chung 1.
Hướng nghiên cứu về chức năng của thái độ 1. Những nghiên cứu trên thế giới Điền hình cho những nghiên cứu tiếp cận thái độ theo hướng chức năng la Reich, Adcock, W.Znaninecki (1918 - 1920) là những người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “thái độ” khi nghiên cứu sự thích ứng với môi trường của những người nông dân Ba Lan di cư sang Mỹ. Các tác giả này cho rằng chức năng cơ bản của thái độ là chức năng thích nghi cá nhân với môi trường xã hội [dẫn theo 40]. Các lý thuyết chức năng, sau này, được nghiên cứu chủ yếu bởi các nhóm nghiên cứu: Katz (1960), Kelman (1961), Smith, Bruner, White (1956), Herek (1986), Shavitt (1989),.
Theo các tác giả thì thái độ của mỗi cá nhân là khác nhau và xuất phát từ những lợi ích tâm lý của mỗi cá nhân. Thái độ như là một phương tiện bằng cách nó giúp con người ta điều chỉnh hành vi theo chủ đích của chủ thể [75]. Smith và cộng sự (1956) thì cho rằng thái độ có cấu trúc chức năng đánh giá đối tượng bằng con đường gián tiếp, thông qua những mối quan hệ cá nhân và ngược lại [76].Allport cho rằng thái độ đóng vai trò quyết định chỉ phối hành vi của con người: “?hái độ được cho là nguyên nhân hành vì của người này đối với người khác hoặc một đối tượng khác; khái niệm thai độ còn giúp lý giải hành vì kiên định của một người nào đó”. Tuy nhiên, trong một số thực nghiệm của R.La Piere (1934) với mục đích tìm ta mối quan hệ giữa hành vi và thái độ.
La Piere đi vòng quanh Hoa Kỳ với một cặp vợ chồng người Hoa, mong muốn gặp sự phân biệt đối xử do cảm giác chống Trung Quốc. Vào thời kỳ thành kiến chống lại người Châu Á đã lan rộng và không có luật chống phân biệt chủng tộc. Họ đã đến thăm 67 khách sạn và 184 nha hang. Sáu tháng 6, sau khi họ trở lại, tất cả các cơ sở họ đã truy cập đã được gửi một lá thư, hỏi liệu có chấp nhận khách Trung Quốc.
Kết quả là, họ chỉ bị từ chối tại một trong những cơ sở họ đến thăm, và thường được đối xử một cách lịch sự. Trong số 128 cơ sở trả lời thư, 91% cho biết họ không sẵn lòng chấp nhận khách Trung Quốc. Như vậy, thái độ không phải luôn luôn tiên đoán cho hành vị. Các thành phần nhận thức và cảm xúc của thái độ không nhất thiết phải thé hiện trong hành vi.
Nghiên cứu của La Piere cho thấy các thành phần nhận thức và tình cảm của thái độ (ví dụ như không thích người Trung Quốc) không nhất thiết phải trùng khớp với hành vi (ví dụ như phục vu ho)[ 87, tr.227] 10 Từ nghiên cứu của La Piere đã có nhiều nghiên cứu khác đi sâu nghiên cứu lý giải mỗi quan hệ giữa thái độ và hành vi. Một số nghiên cứu điển hình như: thuyết hanh d6ng hop ly (Theory of reasoned action - TRA), thuyét nay được phát triển bởi Martin Fishbein va Icek Ajzen(1975, 1980), mô hình nay nhằm đề dự báo ý định của hành vi, góp phần quan trọng mô tả mỗi quan hệ giữa thái độ và hành vi được các công ty sử dụng đề miêu tả hành vi tiêu dùng của khách hàng [ 33, tr. Những nghiên cứu ở Việt Nam Một số nhà nghiên cứu quan tâm đến thái độ của cá nhân với tư cách là những nhân tố cốt lõi của nhân cách cá nhân. Phạm Minh Hạc nhắn mạnh tới thái độ là một trạng thái tâm lí biểu hiện phản ánh tâm lí ưa thích hay ghét bỏ đối với sự kiện (xã hội), con người, vật thể, dựa trên cơ sở nhận thức, tình cảm, thang giá trị dẫn đến ứng xử [23].
Trần Trọng Thuỷ, Nguyễn Quang Uấn nghiên cứu thái độ với tư cách là các cấu trúc của tinh cách cá nhân và được thê hiện qua 4 mặt: thái độ đối với tập thể và xã hội; thái độ đối với lao động; thái độ đối với mọi người và thái độ đối với bản thân [25]. Tác giả Võ Thị Minh Chí (2004) trong bài viết về nghiên cứu thái độ trong nhân cách, đã xem xét thái độ như một thuộc tính tâm lý, một thành tố tích cực của ý thức cá thê và là mối quan hệ chủ quan với thế giới được phản ánh, được khách quan hóa bởi tâm vận động của con người. Nên khi nghiên cứu về con người, về nhân cách chúng ta không thể không nghiên cứu về thái độ của họ [22]. Nhìn chung các tác giả đều cho rằng thái độ được xem là phạm trù chủ quan của cá nhân trong mối tương tác với ngoại giới hay đối với chính bản thân mình.
Thái độ vừa có chức năng định hướng, hướng dẫn, vừa có chức năng động lực thúc đây cá nhân ứng xử trong các tính huống khác nhau của đời sống. Điều này được các nhà nghiên cứu chỉ ra trong quá trình xác lập cấu trúc và biêu hiện của thái độ. Hướng nghiên cứu về cấu trúc thái độ 1. Những nghiên cứu trên thế giới Hướng nghiên cứu về cấu trúc của thái độ đại diện là các tác giả: Fishbein; M.mỗi tác giả lại đưa các quan điểm khác nhau về các thành phần cấu trúc của thái độ, trong đó có quan điểm chỉ ra cấu trúc thái độ gồm một thành phần, có quan điểm cho rằng thái độ gồm hai thành phần, có quan điểm cho rằng cấu trúc thái độ gồm ba thành phần.
Đại điện cho quan điểm cấu trúc thái độ gồm một thành tố là Thuntcere và Fishbein đã khẳng định cấu trúc của thái độ gồm 1 thành phần duy nhất đó là cảm xúc. Nhà khoa học Fishbein (1967), tuy là tác giả của quan điểm thái độ gồm hai thành phần nhưng cũng nhận thấy các kỹ thuật đo lường thái độ của nhiều tác giả đều có chung đặc điểm là chỉ có một miền đo là cảm xúc [98] Quan điểm cho rằng cấu trúc của thái độ gồm hai thành phần, đại diện cho quan điểm này là Calder & Ross (1972) đã đưa ra mô hình hai thành phần là: Mong đợi và giá trị [dan theo 30]. Đến năm 1975 Fishbein & Ajzen lap luận mô hình Mong đợi — giá trị của thái độ đề xuất rằng một người mang nhiều niềm tin khác nhau về một đối tượng của thái độ và một đối tượng được coi là có nhiều thuộc tính. Một mô hình phô biến nhất trong số các mô hính Mong doi — gia tri về thái độ là mô hình đo lường đa thuộc tính.
Mô hình này do Fishbein (1963) đề xuất. Theo đó thái độ là một phép đo độc lập về cảm xúc ủng hộ hay phản đối với đối tượng là phương trình của mức độ tin tưởng và sự đánh giá các khía cạnh của đối tượng [31]. Hướng nghiên cứu cấu trúc thái độ gồm ba thành phần: Đại điện cho xu hướng này là các nhà nghiên cứu như Smith, McGurre (1969), Rogenberg, Hovtand. Pennington (1986) lại cho rằng: các 12 thành phần cấu trúc của thái độ bao gồm hệ thống niềm tin và hệ thống đánh giá, việc đánh giá một sự vật, hiện tượng theo hướng tích cực hay tiêu cực là do niềm tin của chúng ta về giá trị của sự vật, hiện tượng đó.
Lưu ý rằng hai người có thể có cùng niềm tin, cùng có tiêu chuẩn về giá trị như nhau nhưng lại có thái độ khác nhau [31]. Những nghiên cứu ở Việt Nam Tại Việt Nam, nghiên cứu về thái độ tiếp cận ở khía cạnh cấu trúc đành được sự quan tâm của nhiều nhà tâm lý học cả về góc độ lí luận và thực tiễn. Đồng thời, thời gian gần đây, một số các tác giả khác cũng đã thực hiện đề tài luận án tiến sĩ, công trình nghiên cứu khoa học về thái độ theo các khía cạnh khác nhau. Dưới đây xin tổng quan một số công trình nghiên cứu về thái độ theo ba hướng nghiên cứu chính sau đây: * Hướng nghiên cứu về các mặt biểu hiện nhận thức - cảm xúc - hành vỉ của thái độ Tác giả Nguyễn Văn Long (2015) khi nghiên cứu về thái độ với các môn học lý luận chính trị cũng đề cập đến cấu trúc ba mặt của thái độ: nhận thức, xúc cảm và hành vi khi nghiên cứu về thái độ của học sinh trung học phô thông đối với phương pháp tổ chức giảng dạy môn giáo dục giới tính hiện nay.
Luận điểm chính của đề tài cho rằng học sinh có thái độ chưa tích cực đối với phương pháp tổ chức dạy môn giáo dục giới tính hiện nay và có sự khác nhau giữa các em học sinh nam và nữ [37]. Đỗ Thị Nga (2015) trong nghiên cứu về “Thái độ của học sinh trung học phổ thông đối với hành vi bảo lực học đường tỉnh Bình Dương”. Kết quả nghiên cứu của luận án cho thấy bức tranh chung về thái độ của các em đối với hành vi bạo lực học đường thể hiện qua ba mặt nhận thức, xúc cảm và hành động [43].