Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Về mặt lý luận, các nghiên cứu về thái độ của phạm nhân đối với việc chấp hành án phạt tù, đặc biệt là thái độ đối với các hoạt động giáo dục cải tạo, chưa được các nhà tâm lý học tại Việt Nam tập trung nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ của Tâm lý học tư pháp và Tâm lý học tội phạm. Phần lớn các công trình nghiên cứu về người đang chấp hành án hình sự trước đây chủ yếu tiếp cận dưới góc độ khoa học luật học và phòng ngừa tội phạm. Trong phạm vi chuyên ngành Tâm lý học, các nghiên cứu đã tiếp cận một số khía cạnh như ý thức của phạm nhân, sự thích ứng tâm lý hoặc nhu cầu tham vấn tâm lý, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống về thái độ của phạm nhân đối với việc chấp hành án phạt tù. Do đó, cơ sở lý luận về tâm lý học pháp lý gắn liền với công tác giáo dục và cải tạo phạm nhân còn thiếu hụt.
Về mặt thực tiễn, số liệu từ Báo cáo Sơ kết công tác trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng 6 tháng đầu năm 2020 của Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng (Cục C10) cho thấy: tính đến ngày 14/6/2020, đơn vị đang quản lý 129.138 đối tượng (tăng 2.313 đối tượng so với cùng kỳ năm 2019), trong đó có hơn 128.000 phạm nhân tại các trại giam. Tình trạng tái phạm tội có xu hướng gia tăng, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao hiệu quả của quy trình giáo dục cải tạo. Quá trình cải tạo tại trại giam bao gồm nhiều hoạt động bắt buộc như lao động, học tập pháp luật, sinh hoạt văn hóa, thể thao và chấp hành nội quy. Thái độ của phạm nhân là trạng thái tâm lý định hướng và thúc đẩy hành vi, giữ vai trò quyết định hiệu quả tiếp nhận các tác động giáo dục. Việc nắm bắt thực trạng thái độ và các yếu tố ảnh hưởng là cơ sở thực tiễn để nâng cao chất lượng cải tạo và giảm tỷ lệ tái phạm.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là xây dựng khung lý luận về thái độ của phạm nhân đối với việc chấp hành án phạt tù; đánh giá thực trạng mức độ biểu hiện và các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của phạm nhân trong quá trình chấp hành án; từ đó đề xuất hệ thống khuyến nghị nhằm nâng cao thái độ tích cực của phạm nhân.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về thái độ của phạm nhân với việc chấp hành án phạt tù.
- Xây dựng cơ sở lý luận: xác định khái niệm, cấu trúc các thành phần của thái độ và các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của phạm nhân với việc chấp hành án phạt tù.
- Nghiên cứu thực tiễn: phân tích thực trạng mức độ biểu hiện thái độ của phạm nhân theo các thành phần và nội dung hoạt động; đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cá nhân và môi trường.
- Đề xuất các khuyến nghị khoa học và thực tiễn nhằm nâng cao thái độ tích cực của phạm nhân trong quá trình chấp hành án phạt tù.
Giả thuyết nghiên cứu
Luận án xây dựng 3 giả thuyết nghiên cứu chính:
- Giả thuyết 1: Phạm nhân có thái độ biểu hiện đối với việc chấp hành án phạt tù có thời hạn ở mức độ trung bình, biểu hiện đồng thời trên cả ba thành phần: nhận thức, cảm xúc và hành vi.
- Giả thuyết 2: Có sự khác biệt về mức độ biểu hiện thái độ của phạm nhân với việc chấp hành án phạt tù giữa các thành phần cấu trúc và giữa các nội dung hoạt động chấp hành án tại trại giam.
- Giả thuyết 3: Các yếu tố gắn liền với đặc điểm cá nhân và môi trường xung quanh có ảnh hưởng đến thái độ chấp hành án phạt tù của phạm nhân.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Mức độ biểu hiện thái độ của phạm nhân với việc chấp hành án phạt tù và các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của phạm nhân.
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu thái độ như một trạng thái tâm lý có cấu trúc gồm 3 thành phần (nhận thức, cảm xúc, hành vi) ở cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực đối với các quy định chấp hành án phạt tù có thời hạn.
- Khách thể nghiên cứu: Khảo sát trên 370 phạm nhân đang chấp hành án phạt tù có thời hạn và đội ngũ cán bộ trại giam (bao gồm Giám thị, Phó Giám thị, cán bộ quản giáo, cán bộ giáo dục và cán bộ trinh sát).
- Địa bàn nghiên cứu: Trại giam Phú Sơn 4 tại tỉnh Thái Nguyên, trực thuộc Cục C10 - Bộ Công an.
| Tiêu chí |
Nội dung xác định trong luận án |
| Chuyên ngành |
Tâm lý học (Tâm lý học tư pháp / Tâm lý học tội phạm) |
| Khách thể khảo sát |
370 phạm nhân chấp hành án có thời hạn và cán bộ trại giam |
| Địa bàn nghiên cứu |
Trại giam Phú Sơn 4 - Thái Nguyên (thuộc Cục C10) |
| Cấu trúc thái độ |
3 thành phần: Nhận thức - Cảm xúc - Hành vi |
| Quy mô luận án |
4 chương nội dung chính cùng phần mở đầu, kết luận, kiến nghị |
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu về thái độ nói chung
Tác giả đã hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu thái độ trong tâm lý học thế giới và Việt Nam qua các hướng tiếp cận cơ bản:
-
Hướng nghiên cứu về chức năng của thái độ:
- Tài liệu quốc tế: W. Znaniecki cùng các cộng sự (1918–1920) lần đầu sử dụng thuật ngữ thái độ khi nghiên cứu sự thích ứng của nông dân Ba Lan di cư sang Mỹ, xác định chức năng cơ bản của thái độ là thích nghi cá nhân với môi trường xã hội. Các nhóm nghiên cứu tiếp theo như Smith, Bruner, White (1956), Katz (1960), Kelman (1961), Herek (1986), Shavitt (1989) tiếp tục khẳng định thái độ giúp cá nhân điều chỉnh hành vi theo mục đích chủ thể và gián tiếp đánh giá đối tượng. G. Allport khẳng định thái độ chi phối hành vi cá nhân. Thực nghiệm của R. LaPiere (1934) khi khảo sát 67 khách sạn và 184 nhà hàng (với 128 đơn vị phản hồi sau đó, trong đó 91% từ chối tiếp nhận dù thực tế đã phục vụ) chứng minh nhận thức và cảm xúc không phải lúc nào cũng đồng nhất với hành vi. Từ đó, Fishbein và Ajzen (1975, 1980) phát triển Thuyết hành động hợp lý (TRA) để dự báo ý định hành vi.
- Tài liệu Việt Nam: Phạm Minh Hạc nhìn nhận thái độ là trạng thái tâm lý phản ánh sự ưa thích hay ghét bỏ dựa trên nhận thức, tình cảm và thang giá trị; Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uấn tiếp cận thái độ như cấu trúc tính cách (thể hiện qua 4 mặt: đối với tập thể/xã hội, lao động, mọi người, bản thân); Võ Thị Minh Chí (2004) xem thái độ là thuộc tính tâm lý, thành tố tích cực của ý thức cá thể.
-
Hướng nghiên cứu về cấu trúc của thái độ:
- Mô hình 1 thành phần: Thurstone (1931) và Fishbein (1967) chỉ ra cấu trúc thái độ tập trung vào chiều kích cảm xúc ủng hộ hoặc phản đối đối tượng.
- Mô hình 2 thành phần: Calder & Ross (1972), Fishbein & Ajzen (1975) đề xuất Mô hình Mong đợi – Giá trị (Expectancy-Value Model); Calder & Lutz (1972) đưa ra mô hình Vectơ kết hợp giữa cảm xúc và nhận thức.
- Mô hình 3 thành phần: Rosenberg & Hovland (1960), McGuire (1969), Pennington (1986), Smith (1942), Spooncer (1992), Lê Văn Hảo và Knud S. Larsen (2010) xác định thái độ là chỉnh thể thống nhất gồm: Nhận thức, Cảm xúc và Hành vi (hoặc xu hướng hành vi). Tại Việt Nam, hướng tiếp cận này được ứng dụng trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Long (2015), Đỗ Thị Nga (2015), Bùi Thị Hồng Minh (2017).
-
Hướng nghiên cứu về phương pháp đo lường thái độ:
- Bogardus (1925) xây dựng thang đo khoảng cách xã hội 7 mức độ; Likert (1932) chuẩn hóa thang đo thái độ; Miaxisev phân định các chỉ báo cấp I (tính tình thái, cường độ, độ rộng, tính bền vững) và cấp II (tính chi phối, tính hài hòa, tính cảm xúc...); Crites, Fabrigar và Petty (1994) thực nghiệm đo lường thái độ nhận thức và cảm xúc qua các đối tượng "con rắn" và "máy hút bụi"; A. Wicker (1969) phân tích mối quan hệ giữa thái độ và hành vi; Đào Thị Oanh (2004) phân tích các lưu ý phương pháp luận trong đo lường thái độ.
Các hướng nghiên cứu về tâm lý và thái độ của phạm nhân
- Nghiên cứu quốc tế:
- Raymond Corsini (1946) khảo sát thái độ phạm nhân qua 12 câu hỏi, ghi nhận 50% cảm thấy tương đối hài lòng với môi trường giam giữ nhưng trăn trở lớn nhất vẫn là gia đình và tái hòa nhập;
- Sobel (1982) chỉ ra ảnh hưởng của mối quan hệ gia đình và bố mẹ tới cơ hội nghề nghiệp và cải tạo;
- MacKenzie & Goodstein (1985) nghiên cứu mối quan hệ giữa mức án, thời gian chấp hành và trạng thái tâm lý lo âu, trầm cảm;
- Ph. Xundurov phân tích biến số hôn nhân, nghề nghiệp, tiền án ảnh hưởng đến việc tuân thủ nội quy;
- Naser (2006) chỉ ra sự hỗ trợ tài chính, nhà ở và tinh thần của gia đình là điểm tựa tái hòa nhập;
- Abdulkarim A. (2007) khảo sát thái độ đối với giáo dục từ xa tại Ả-rập Xê-út;
- Larry Brewster (2014) đánh giá tác động của chương trình nghệ thuật đối với hành vi và điều chỉnh cảm xúc của phạm nhân tại California;
- Ramon Alós, Fernando Esteban, Pere Jodar, Fausto Miguélez (2014) khảo sát tác động của lao động trong trại giam tới khả năng tìm việc làm tại Catalonia (Tây Ban Nha);
- Konstantinakos Pantelis (2014) nghiên cứu thái độ với thể dục thể thao tại Hy Lạp;
- Yunhan Zhao, Steven F. Messner, Jianhong Liu, Cheng Jin (2019) nghiên cứu sự tham gia học thuật và dạy nghề tại các nhà tù Trung Quốc.
- Nghiên cứu tại Việt Nam:
- Hoàng Thị Bích Ngọc (2002) nghiên cứu yếu tố tâm lý và đặc điểm giao tiếp của phạm nhân phạm tội ít nghiêm trọng;
- Nguyễn Hồi Loan và Đặng Thanh Nga (2004) phân tích 3 giai đoạn biến chuyển tâm lý: mới vào trại (3–4 tháng), thích nghi, và chuẩn bị được tự do;
- Chu Văn Đức (2007, 2009) nghiên cứu sự thích ứng với chế độ sinh hoạt và lao động, xác định niềm tin vào tương lai là yếu tố chi phối mạnh;
- Nguyễn Văn Toàn (2014) nghiên cứu tự ý thức về hành vi phạm tội và chấp hành án;
- Phạm Thị Thục Oanh (2019) phân tích thích ứng tâm lý của phạm nhân nữ trên 3 mặt nhận thức, cảm xúc và hành vi.
+---------------------------------------------------------------------------------------+
| CÁC HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIỀN ĐỀ: |
| 1. Lý luận thái độ: W. Znaniecki (1918), G. Allport (1935), Rosenberg & Hovland (1960)|
| 2. Đo lường thái độ: Bogardus (1925), Likert (1932), Crites & Fabrigar (1994) |
| 3. Tâm lý phạm nhân: R. Corsini (1946), MacKenzie (1985), Nguyễn Hồi Loan (2004)... |
+-------------------------------------------+-------------------------------------------+
|
v
+---------------------------------------------------------------------------------------+
| KHOẢNG TRỐNG KHOA HỌC: |
| - Chưa có công trình hệ thống hóa thái độ chấp hành án của phạm nhân theo cấu trúc |
| 3 thành phần (nhận thức - cảm xúc - hành vi) dưới góc độ Tâm lý học tư pháp tại VN. |
+-------------------------------------------+-------------------------------------------+
|
v
+---------------------------------------------------------------------------------------+
| VỊ TRÍ VÀ GIẢI PHÁP CỦA LUẬN ÁN: |
| - Xây dựng khung lý luận và bộ công cụ đo lường thực chứng trên 370 phạm nhân có thời |
| hạn tại Trại giam Phú Sơn 4 (Thái Nguyên) thuộc Cục C10. |
+---------------------------------------------------------------------------------------+
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Mặc dù các nghiên cứu trước đã đề cập đến các khía cạnh tâm lý như thích ứng, giao tiếp hay tự ý thức, nhưng chưa có công trình nào tại Việt Nam nghiên cứu chuyên biệt và có hệ thống về thái độ của phạm nhân với việc chấp hành án phạt tù trên cả 3 thành phần: nhận thức, cảm xúc và hành vi. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách thao tác hóa khái niệm thái độ thành các chỉ số đo lường thực tiễn, phân tích thực trạng biểu hiện và xác định cụ thể các yếu tố ảnh hưởng trong môi trường giam giữ tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm sử dụng
- Khái niệm thái độ: Kế thừa định nghĩa của G. Allport (1935), Từ điển thuật ngữ Tâm lý học (Vũ Dũng chủ biên, 2012) và I. Ajzen (1991), luận án xác định thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh được tổ chức thông qua kinh nghiệm, có tác dụng điều chỉnh hoặc định hướng phản ứng của cá nhân trước các đối tượng và tình huống liên quan.
- Đặc điểm của thái độ: Luận án chỉ ra 6 đặc trưng cơ bản của thái độ: tính trạng thái tâm lý, tính phản ứng tích cực/tiêu cực, tính ý thức, tính mức độ, tính chi phối và tính bền vững tương đối.
- Cấu trúc thái độ 3 thành phần (theo mô hình Smith, 1942 và Rosenberg & Hovland, 1960):
- Mặt nhận thức: Sự hiểu biết, nhận thức về mục đích, ý nghĩa của bản án, nội quy trại giam và các hoạt động cải tạo.
- Mặt cảm xúc: Những rung cảm, trạng thái cảm xúc tích cực (đồng tình, an tâm, hối cải) hoặc tiêu cực (chán nản, ức chế, lo âu) đối với quá trình chấp hành án.
- Mặt hành vi: Xu hướng hành động, sự chấp hành các nội quy, tham gia lao động, học tập pháp luật và nề nếp sinh hoạt tại trại giam.
- Cơ sở pháp lý về phạm nhân và chế độ chấp hành án phạt tù:
- Căn cứ Khoản 2 Điều 3 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 về định danh phạm nhân, thời hạn chấp hành hình phạt tù (tối đa 30 năm đối với tổng hợp hình phạt tù có thời hạn).
- Căn cứ Thông tư số 06/2018/TT-BCA ngày 12/02/2018 của Bộ Công an quy định 4 tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù:
- Tiêu chuẩn 1: Nhận rõ tội lỗi, ăn năn hối cải, tích cực khắc phục hậu quả, trung thực khai báo.
- Tiêu chuẩn 2: Nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, bản án, nội quy trại giam; thực hiện nếp sống văn minh.
- Tiêu chuẩn 3: Tích cực, tự giác, gương mẫu trong lao động, học nghề, đảm bảo định mức và an toàn lao động.
- Tiêu chuẩn 4: Tích cực học tập, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, tôn trọng người khác và giúp đỡ phạm nhân khác tiến bộ.
- Căn cứ Thông tư số 17/2020/TT-BCA ngày 18/02/2020 của Bộ Công an về Nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân; các Điều 31 (chế độ học tập, học nghề), Điều 32 (chế độ lao động), Điều 50 (chế độ văn hóa, thể thao), Điều 52 (chế độ gặp thân nhân) của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
| Thành phần cấu trúc |
Nội dung biểu hiện theo luận án |
Căn cứ lý luận & pháp lý |
| Nhận thức |
Hiểu biết về hành vi phạm tội, ý nghĩa hình phạt, mục đích giáo dục cải tạo |
Mô hình Smith (1942), Rosenberg & Hovland (1960); Tiêu chuẩn 1 Thông tư 06/2018/TT-BCA |
| Cảm xúc |
Trạng thái cảm xúc âm tính/dương tính; sự hối cải, lo lắng, ổn định tư tưởng |
Lý thuyết cảm xúc; Nghiên cứu MacKenzie & Goodstein (1985), Edward Zamble (1988) |
| Hành vi |
Chấp hành kỷ luật, tham gia lao động cải tạo, học tập pháp luật, văn thể mỹ |
Điều 31, 32, 50 Luật Thi hành án hình sự 2019; Tiêu chuẩn 2, 3, 4 Thông tư 06/2018/TT-BCA |
Nguyên tắc phương pháp luận
Luận án vận dụng 3 nguyên tắc phương pháp luận của tâm lý học:
- Nguyên tắc tiếp cận liên ngành: Đặt nghiên cứu tâm lý thái độ trong mối liên hệ với luật học, xã hội học, giáo dục học, tội phạm học và khoa học phòng ngừa tội phạm.
- Nguyên tắc tiếp cận hoạt động: Khảo sát thái độ gắn liền với các hoạt động thực tế của phạm nhân tại trại giam gồm lao động cải tạo, học tập giáo dục pháp luật và sinh hoạt văn hóa, thể thao.
- Nguyên tắc tiếp cận hệ thống: Đánh giá thái độ trong sự liên kết thống nhất giữa 3 thành phần nhận thức, cảm xúc, hành vi và trong mối tương tác giữa cá nhân với môi trường trại giam, cán bộ quản giáo và gia đình.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Luận án sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu: Phân tích các công trình lý thuyết và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Luật Thi hành án hình sự 2019, Bộ luật Hình sự 2015, Thông tư 06/2018/TT-BCA, Thông tư 17/2020/TT-BCA).
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Công cụ thu thập dữ liệu định lượng chính trên mẫu 370 phạm nhân chấp hành án có thời hạn và lấy ý kiến cán bộ trại giam.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thu thập thông tin định tính từ cán bộ quản giáo, cán bộ giáo dục và các phạm nhân.
- Phương pháp quan sát: Theo dõi biểu hiện hành vi, thái độ và nề nếp sinh hoạt của phạm nhân trong quá trình lao động và học tập.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình: Phân tích sâu các ca phạm nhân có thái độ cải tạo tích cực hoặc biểu hiện lệch chuẩn, vi phạm kỷ luật.
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý và phân tích các chỉ số định lượng thu được từ bảng hỏi.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về thái độ của phạm nhân với việc chấp hành án phạt tù
Chương 1 thực hiện tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế. Tác giả phân chia bức tranh nghiên cứu thành 3 nhóm lớn: các hướng tiếp cận lý thuyết về thái độ (chức năng, cấu trúc, phương pháp đo lường); các nghiên cứu quốc tế về tâm lý và thái độ của người chấp hành án phạt tù; và các nghiên cứu thực tiễn tại Việt Nam về đối tượng phạm nhân. Chương này chỉ ra rằng các nghiên cứu trong nước trước đây tập trung vào vấn đề thích ứng môi trường sống (Chu Văn Đức, Phạm Thị Thục Oanh), giao tiếp (Hoàng Thị Bích Ngọc) hoặc tự ý thức (Nguyễn Văn Toàn), nhưng chưa có nghiên cứu độc lập nào xây dựng cấu trúc thái độ chấp hành án trên cả ba chiều kích nhận thức, cảm xúc và hành vi.
Chương 2: Cơ sở lý luận nghiên cứu về thái độ của phạm nhân với việc chấp hành án phạt tù
Chương 2 tập trung xây dựng khung lý thuyết của đề tài. Tác giả làm rõ nội hàm các khái niệm: thái độ, phạm nhân, trại giam, hoạt động chấp hành án phạt tù có thời hạn và thái độ của phạm nhân với việc chấp hành án phạt tù.
- Luận án xác lập cấu trúc thái độ gồm 3 thành phần thống nhất: nhận thức, cảm xúc và hành vi.
- Phân tích đặc điểm tâm lý đặc thù của phạm nhân: trạng thái cảm xúc bất ổn, lo âu, trầm cảm (MacKenzie & Goodstein, 1985; Edward Zamble, 1988), sự lệch lạc trong nhận thức chuẩn mực đạo đức, pháp luật và nguy cơ suy giảm ý chí hoàn lương (Hoàng Cung, 2003).
- Hệ thống hóa các quy định pháp luật điều chỉnh quá trình chấp hành án (Luật Thi hành án hình sự 2019, Thông tư 06/2018/TT-BCA, Thông tư 17/2020/TT-BCA) làm căn cứ chuẩn mực để xác định các tiêu chí đo lường thái độ.
Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày thiết kế nghiên cứu thực nghiệm. Tác giả cụ thể hóa các nguyên tắc phương pháp luận (tiếp cận liên ngành, tiếp cận hoạt động, tiếp cận hệ thống), xây dựng quy trình nghiên cứu gồm các giai đoạn chuẩn bị, khảo sát thử nghiệm, thu thập dữ liệu chính thức và xử lý dữ liệu.
- Mẫu khảo sát được chọn là 370 phạm nhân đang chấp hành án phạt tù có thời hạn tại Trại giam Phú Sơn 4 (tỉnh Thái Nguyên) thuộc Cục C10 - Bộ Công an, kết hợp khảo sát đội ngũ cán bộ trại giam (Giám thị, Phó Giám thị, quản giáo, giáo dục, trinh sát).
- Hệ thống công cụ được chuẩn hóa gồm: bảng hỏi khảo sát thái độ theo thang đo Likert, phiếu phỏng vấn sâu, hướng dẫn quan sát hành vi và tiêu chí lựa chọn trường hợp điển hình.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn thái độ của phạm nhân với việc chấp hành án phạt tù
Chương 4 phản ánh toàn bộ kết quả phân tích số liệu thực tế thu được tại Trại giam Phú Sơn 4:
- Thực trạng mức độ biểu hiện thái độ: Đa số phạm nhân có mức độ biểu hiện thái độ đối với việc chấp hành án phạt tù ở mức trung bình, chưa đạt mức tốt.
- Sự phân hóa giữa các thành phần cấu trúc:
- Thành phần nhận thức và thành phần hành vi có mức độ biểu hiện tích cực cao hơn so với thành phần cảm xúc.
- Thành phần cảm xúc là mặt biểu hiện thấp nhất trong cấu trúc; phạm nhân thường xuất hiện các trạng thái cảm xúc âm tính đối với các hoạt động trong quá trình chấp hành án.
- Các yếu tố ảnh hưởng: Luận án chứng minh thái độ của phạm nhân chịu sự tác động đồng thời của các yếu tố cá nhân và môi trường. Trong đó, hai yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến thái độ chấp hành án là:
- Yếu tố cảm nhận của phạm nhân về hành vi phạm tội và mức án cải tạo.
- Yếu tố mối quan hệ giữa phạm nhân và gia đình.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và bổ sung cơ sở lý thuyết về thái độ trong Tâm lý học tư pháp và Tâm lý học tội phạm, đặc biệt là lý luận về thái độ của phạm nhân đối với việc chấp hành án phạt tù.
- Xác định và luận giải cấu trúc thái độ của phạm nhân gồm 3 thành phần có mối quan hệ hữu cơ: nhận thức, cảm xúc và hành vi đối với các quy định và hoạt động cải tạo.
- Thao tác hóa thành công khái niệm thái độ thành các tiêu chí, chỉ số định lượng cụ thể dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết tâm lý học và các quy định pháp luật thi hành án hình sự hiện hành.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh thực trạng khoa học về mức độ biểu hiện thái độ của 370 phạm nhân chấp hành án có thời hạn tại Trại giam Phú Sơn 4, chỉ ra sự chênh lệch rõ rệt giữa hành vi bên ngoài và cảm xúc bên trong của phạm nhân.
- Phát hiện mức độ biểu hiện cảm xúc của phạm nhân đối với các hoạt động chấp hành án còn ở mức thấp và thiên về âm tính, cảnh báo nguy cơ phạm nhân chỉ chấp hành mang tính đối phó bề ngoài nhằm đạt tiêu chuẩn giảm án.
- Xác định rõ hai yếu tố chi phối mạnh nhất đến thái độ là nhận thức/cảm nhận về hành vi phạm tội - mức án và sự quan tâm, kết nối từ phía gia đình.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đề xuất các khuyến nghị đối với cán bộ trại giam (Giám thị, quản giáo, cán bộ giáo dục) trong việc đổi mới phương pháp giáo dục cải tạo, chú trọng tác động chuyển biến cảm xúc và nhận thức sâu sắc về lỗi lầm thay vì chỉ kiểm soát hành vi bề ngoài.
- Tăng cường phối hợp giữa cơ sở giam giữ và gia đình phạm nhân thông qua việc đảm bảo và mở rộng các điều kiện thăm gặp, liên lạc hợp pháp để tạo điểm tựa tinh thần vững chắc cho phạm nhân trong quá trình cải tạo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Khách thể nghiên cứu thực tiễn mới chỉ giới hạn ở nhóm phạm nhân đang chấp hành án phạt tù có thời hạn (370 phạm nhân), chưa mở rộng khảo sát trên nhóm phạm nhân có mức án tù chung thân.
- Địa bàn khảo sát tập trung tại một cơ sở giam giữ là Trại giam Phú Sơn 4 (Thái Nguyên) thuộc Cục C10, chưa thực hiện so sánh đối chứng liên trại giam giữa các vùng miền địa lý khác nhau.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng phạm vi khách thể nghiên cứu sang nhóm phạm nhân chấp hành án phạt tù chung thân và phân hóa sâu theo từng nhóm tội danh cụ thể.
- Mở rộng địa bàn nghiên cứu tại các trại giam thuộc các khu vực địa lý khác nhau trên cả nước để đánh giá mức độ khái quát hóa của mô hình và các yếu tố tác động văn hóa - xã hội vùng miền.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Chuyên ngành Tâm lý học (Tâm lý học tư pháp, Tâm lý học tội phạm, Tâm lý học xã hội), Tội phạm học, Luật Hình sự và Thi hành án hình sự; có thể tham khảo trực tiếp khung lý thuyết và phương pháp thao tác hóa đo lường thái độ.
- Cán bộ quản lý và giáo dục tại các trại giam, cơ sở giam giữ thuộc Cục C10: Vận dụng các phát hiện thực tiễn để đánh giá thực chất thái độ của phạm nhân, phát hiện sự lệch pha giữa cảm xúc và hành vi, từ đó điều chỉnh phương pháp quản lý, giáo dục phù hợp.
- Các nhà hoạch định chính sách: Tham khảo cơ sở thực chứng để hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tiêu chuẩn thi đua chấp hành án và chế độ thăm gặp, hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành án.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát thực tiễn trên đối tượng và địa bàn nào?
Luận án tiến hành khảo sát thực tiễn trên mẫu gồm 370 phạm nhân đang chấp hành án phạt tù có thời hạn cùng đội ngũ cán bộ trại giam (Giám thị, Phó Giám thị, cán bộ quản giáo, cán bộ giáo dục, cán bộ trinh sát) tại Trại giam Phú Sơn 4 thuộc tỉnh Thái Nguyên (đơn vị trực thuộc Cục C10 - Bộ Công an).
2. Cấu trúc thái độ của phạm nhân được luận án xác lập gồm những thành phần nào?
Luận án xác lập cấu trúc thái độ của phạm nhân gồm 3 thành phần thống nhất:
- Thành phần nhận thức: Hiểu biết về hành vi phạm tội, ý nghĩa bản án, nội quy và mục đích cải tạo.
- Thành phần cảm xúc: Trạng thái rung cảm, mức độ an tâm, hối cải hoặc lo âu, ức chế.
- Thành phần hành vi: Sự tự giác tuân thủ kỷ luật, tham gia lao động, học nghề và học tập pháp luật.
3. Kết quả khảo sát thực tế cho thấy thực trạng thái độ của phạm nhân như thế nào?
Kết quả nghiên cứu thực tiễn chỉ ra rằng đại đa số phạm nhân có mức độ biểu hiện thái độ ở mức trung bình, chưa đạt mức tốt. Trong 3 thành phần, mặt nhận thức và hành vi có biểu hiện tích cực cao hơn mặt cảm xúc. Cảm xúc là thành phần có mức độ biểu hiện thấp nhất và phạm nhân thường có cảm xúc âm tính đối với các hoạt động chấp hành án.
4. Yếu tố nào có ảnh hưởng mạnh nhất đến thái độ chấp hành án của phạm nhân?
Số liệu điều tra thực tiễn của luận án khẳng định hai yếu tố có ảnh hưởng nhiều nhất đến thái độ của phạm nhân với việc chấp hành án phạt tù là: (1) Cảm nhận của phạm nhân về hành vi phạm tội và mức án cải tạo; (2) Mối quan hệ giữa phạm nhân và gia đình.
Kết luận
Luận án "Thái độ của phạm nhân với việc chấp hành án phạt tù" đã giải quyết khoảng trống nghiên cứu lý luận và thực tiễn trong chuyên ngành Tâm lý học tư pháp tại Việt Nam. Bằng việc phối hợp các nguyên tắc phương pháp luận khoa học và phương pháp điều tra hỗn hợp trên 370 phạm nhân tại Trại giam Phú Sơn 4, công trình đã xác lập cấu trúc thái độ 3 thành phần (nhận thức, cảm xúc, hành vi) và chỉ ra thực trạng mức độ biểu hiện thái độ của phạm nhân đạt mức trung bình, trong đó cảm xúc là khâu yếu nhất. Các phát hiện về sự chi phối của mức án và mối quan hệ gia đình cung cấp cơ sở khoa học xác thực phục vụ công tác quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân và phòng ngừa tái phạm tội.