Đặt vấn đề Hiện nay, thực phẩm chức năng (TPCN) đã là một phần của y học hiện đại. Theo Cục an toàn thực phẩm Việt Nam (2011), tỉ lệ ngƣời trƣởng thành sử dụng TPCN ở thành phố Hồ Chí Minh là 43%, Hà Nội là 63%. Kết quả này khá tƣơng đồng với một số nghiên cứu trên thế giới nhƣ trong nghiên cứu của Dickinson (2011) với tỉ lệ ngƣời trƣởng thành sử dụng TPCN dao động trong từ 64% đến 69%, Ủy ban an toàn dinh dƣỡng Hoa Kỳ (2016) 71%, Spencer (2006) 50% ở nam và 63% ở nữ, Radimer (2004) 52% và Foote (2003) 58% ở nam và 72% ở nữ. Nhu cầu sử dụng TPCN của bệnh nhân là rất lớn, tuy nhiên đa số là do bệnh nhân tự ý sử dụng mà không nhận đƣợc sự tƣ vấn sử dụng TPCN từ bác sĩ, bệnh nhân cũng không có xu hƣớng tự thông báo với bác sĩ về việc bổ sung TPCN.
Nghiên cứu của Tsokeva (2015) cho thấy có đến 46% bệnh nhân không đƣợc bác sĩ hỏi về việc sử dụng TPCN và 79% số ngƣời có sử dụng TPCN không thông có xu hƣớng tự thông báo với bác sĩ. Kết luận trên cũng đƣợc rút ra từ các nghiên cứu của Dickinson (2014), Bailey (2013), Posadzki (2013), Tsai (2012), Eichhorn (2011), Denham (2011) và Marinac (2007). Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh rằng việc tự ý sử dụng TPCN tiềm ẩn các tác dụng bất lợi và nguy cơ tƣơng tác với các thuốc đang sử dụng, cụ thể là trong các nghiên cứu của Colalto (2012), Eichhorn (2011), Peng (2004), De Smet (2004, 2002), Villegas (2001), Marrone (1999), Cupp (1998), Eisenberg (1998) và Miller (1998). Vì những bất lợi trên nên các tổ chức y tế uy tín trên thế giới nhƣ Cục quản lý dƣợc phẩm và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) và Viện y tế quốc gia Hoa Kỳ (NIH) khuyến cáo bệnh nhân nên tham khảo ý kiến của chuyên gia y tế trƣớc khi quyết định sử dụng TPCN cũng nhƣ thông báo cho bác sĩ khi đi khám bệnh về những loại TPCN đang sử dụng (2017).
2 Ở Việt Nam, các cơ quan quản lý y tế có đƣa ra các chính sách và hƣớng dẫn phù hợp với xu hƣớng của thế giới hay không? Thực trạng cho thấy, với tốc độ phát triển nhanh chóng của thị trƣờng TPCN, hệ thống quản lý nhà nƣớc về TPCN thể hiện sự bối rối khi liên tiếp đƣa ra những văn bản trái ngƣợc nhau về quản lý TPCN, điều này đã gây không ít khó khăn cho các chuyên viên y tế trong việc tiếp cận và hƣớng dẫn ngƣời dân sử dụng TPCN hợp lý nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe. Những thay đổi trong chính sách đƣợc trình bày cụ thể trong bảng 1.1: Những thay đổi chính sách về TPCN của Bộ y tế Thời gian Nội dung thay đổi Văn bản Quyết định số 02/2008 Thầy thuốc không đƣợc kê TPCN vào đơn thuốc 04/2008/QĐ-BYT Thầy thuốc khi khám chữa bệnh đƣợc quyền hƣớng Công văn số 11/2013 dẫn sử dụng TPCN cho ngƣời bệnh 7087/BYT-ATTP Thông tƣ số 02/2016 Bác sĩ không đƣợc kê TPCN vào đơn thuốc 05/2016/TT-BYT Cấm thông tin, quảng cáo, tiếp thị, kê đơn, tƣ vấn, ghi nhãn, hƣớng dẫn sử dụng có nội dung dùng để phòng bệnh, chữa bệnh, chẩn đoán bệnh, điều trị Luật dƣợc số 04/2016 bệnh, giảm nhẹ bệnh, điều chỉnh chức năng sinh lý 105/2016/QH13 cơ thể ngƣời đối với sản phẩm không phải là thuốc, trừ trang thiết bị y tế Nhƣ vậy, việc quản lý TPCN đang là một thách thức rất lớn cho hệ thống y tế Việt Nam, liệu rằng việc bỏ ngõ cho bệnh nhân tự ý sử dụng TPCN có phù hợp? Trƣớc bối cảnh đó, việc khảo sát thái độ và quyết định của bác sĩ về việc hƣớng dẫn sử dụng TPCN cho bệnh nhân là thật sự cần thiết, khi chính bác sĩ là những ngƣời có trình độ chuyên môn cũng nhƣ kinh nghiệm lâm sàng về hiệu quả và tác dụng phụ cũng nhƣ 3 tƣơng tác giữa TPCN và thuốc. Xuất phát từ nhu cầu này, tác giả tiến hành nghiên cứu “Thái độ và quyết định tƣ vấn TPCN cho bệnh nhân của các bác sĩ tại bệnh viện Da Liễu Tp. Tính cấp thiết của đề tài Đề tài sẽ phác thảo bức tranh về thái độ của bác sĩ đối với TPCN, từ đó đƣa ra quyết định có tƣ vấn TPCN cho bệnh nhân hay không.
Đây sẽ là cơ sở cho việc định hƣớng và ban hành các nội dung quản lý TPCN phù hợp với quyền lợi bảo vệ sức khỏe ngƣời dân và phù hợp với xu hƣớng của thế giới. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu tổng quát Khảo sát thái độ của bác sĩ về TPCN và ảnh hƣởng của thái độ đó cùng với đặc điểm dân số học đến quyết định tƣ vấn TPCN cho bệnh nhân. Mục tiêu cụ thể Mục tiêu cụ thể thứ nhất là khảo sát thái độ về TPCN và quyết định tƣ vấn TPCN của bác sĩ.
Mục tiêu cụ thể thứ hai là xác định tác động của đặc điểm dân số học đến thái độ về TPCN của bác sĩ. Mục tiêu cụ thể thứ ba là xác định tác động của thái độ về TPCN và đặc điểm dân số học đến quyết định tƣ vấn TPCN cho bệnh nhân. Mục tiêu cụ thể thứ tƣ là kiểm định sự khác biệt trong quyết định tƣ vấn TPCN cho bệnh nhân theo các yếu tố tuổi, giới tính, số năm kinh nghiệm và bằng cấp của bác sĩ. Mục tiêu cụ thể thứ năm là kiểm định sự khác biệt trong thái độ của bác sĩ về TPCN theo các yếu tố tuổi, giới tính, số năm kinh nghiệm và bằng cấp của bác sĩ.
Câu hỏi nghiên cứu Có hai câu hỏi nghiên cứu, đó là: (1) Thái độ của bác sĩ về TPCN nhƣ thế nào? (2) Bác sĩ có cần tƣ vấn cho bệnh nhân về TPCN không? 1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng khảo sát là bác sĩ đang công tác tại bệnh viện Da Liễu và tự nguyện tham gia vào nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu là thái độ và quyết định tƣ vấn TPCN bác sĩ. Dữ liệu nghiên cứu đƣợc lấy từ bảng câu hỏi khảo sát trực tiếp.
Thời gian thực hiện khảo sát tại bệnh viện Da Liễu là hơn 2 tháng (từ ngày 12/02/2017 đến ngày 15/04/2017). Phƣơng pháp nghiên cứu Đề tài phối hợp hai phƣơng pháp nghiên cứu là phƣơng pháp nghiên cứu định tính và phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng, trong đó nghiên cứu định lƣợng đóng vai trò chủ yếu. Nghiên cứu định tính đƣợc thực hiện để bổ sung và chỉnh sửa bộ câu hỏi dƣới sự hỗ trợ của các giảng viên trƣờng Đại học Kinh tế Tp. Nghiên cứu định lƣợng đƣợc thực hiện bằng cách thu thập dữ liệu từ những ngƣời tham gia nghiên cứu.
Tác giả trực tiếp phỏng vấn từng bác sĩ bằng phiếu khảo sát giấy. Sau khi xử lý dữ liệu bằng phềm EXCEL và STATA, tác giả sử dụng phƣơng pháp thống kê mô tả nhằm phân tích đặc điểm mẫu khảo sát và thái độ của bác sĩ, từ đó làm nền tảng hỗ trợ cho kết quả của phƣơng pháp định lƣợng. Tiếp đến, tác giả sử dụng phƣơng pháp phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis – EFA) và phép kiểm Cronbach’s Alpha để kiểm định giá trị, độ tin cậy của bộ câu hỏi và xây dựng biến số thái độ của bác sĩ. Tác giả hồi qui theo phƣơng pháp Ordered Logit với biến phụ thuộc là quyết định tƣ vấn TPCN, các biến độc lập (biến giải thích) là đặc điểm dân số học (gồm tuổi, giới tính, số năm kinh nghiệm, bằng cấp chuyên môn và bằng cấp học thuật) và thái độ 5 của bác sĩ đối với TPCN.
Sau cùng, tác giả sử dụng kiểm định T-test và ANOVA để kiểm định sự khác biệt trong thái độ và quyết định tƣ vấn theo các đặc điểm dân số học. Ý nghĩa của đề tài Thứ nhất, kết quả nghiên cứu sẽ cho độc giả có đƣợc cái nhìn tổng quát về 11 thái độ của bác sĩ về TPCN và quyết định tƣ vấn TPCN của bác sĩ. Thứ hai, nghiên cứu giúp xác định nhân tố nào trong đặc điểm dân số học và thái độ của bác sĩ có tác động đến quyết định tƣ vấn TPCN của bác sĩ. Đồng thời, nghiên cứu cũng thực hiện so sánh sự khác biệt trong thái độ và quyết định tƣ vấn của bác sĩ phân chia theo tuổi, giới tính, số năm kinh nghiệm thực hành y khoa, bằng cấp chuyên môn và bằng cấp học thuật.
Thứ ba, tác giả chƣa tìm thấy nghiên cứu nào trên thế giới thực hiện phân tích các yếu tố tác động đến quyết định tƣ vấn TPCN với đối tƣợng khảo sát là bác sĩ. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở cho các nghiên cứu sâu hơn với từng đối tƣợng khảo sát. Từ đó, ban lãnh đạo các bệnh viện cũng nhƣ cơ quan ban ngành trong hệ thống quản lý y tế sẽ có định hƣớng và ban hành các chiến lƣợc và chính sách về TPCN hiệu quả hơn nhằm nâng cao sức khỏe ngƣời dân. Kết cấu của đề tài Đề tài nghiên cứu đƣợc tác giả trình bày gồm 5 chƣơng.
Chƣơng 1 trình bày tổng quan về đề tài. Chƣơng 2 trình bày về cơ sở lý thuyết. Chƣơng 3 trình bày về phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 4 trình bày về kết quả nghiên cứu và bàn luận.
Cuối cùng là chƣơng 5 trình bày kết luận nghiên cứu, đề xuất giải pháp, hƣớng mở rộng nghiên cứu và hạn chế của đề tài. 6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN Trong chƣơng 2, tác giả trình bày các lý thuyết liên quan đến nhận thức, thái độ, hành vi làm cơ sở cho việc đánh giá, giải thích thái độ của bác sĩ. Đồng thời chƣơng này cũng trình bày các khái niệm liên quan đến TPCN và các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan. Sau cùng, tác giả dựa vào lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan để xây dựng khung phân tích.
Lý thuyết liên quan 2. Lý thuyết thông tin bất cân xứng Những vấn đề liên quan đến thông tin bất cân xứng đƣợc Akerlof (1970), nhà kinh tế học ngƣời Mỹ đƣa ra trong tác phẩm The market for “Lemons”: Quality Uncertainly and The Market Mechanism. Trong bài nghiên cứu này, tác giả đề cập đến thị trƣờng mua bán xe ô tô. Trong thị trƣờng này có xe ô tô chất lƣợng tốt và chất lƣợng xấu.
Nếu cả ngƣời bán và ngƣời mua đều biết đƣợc chất lƣợng mỗi chiếc xe thì hai thị trƣờng xe tốt và xấu đƣợc minh họa nhƣ trong hình 2. Trong phần (a), SH là đƣờng cung và DH là đƣờng cầu của xe chất lƣợng tốt. Tƣơng tự, SL và DL trong phần (b) là đƣờng cung và đƣờng cầu của xe chất lƣợng xấu. Theo vị trí tƣơng đối, SH luôn nằm bên trái SL, DH cao hơn DL.