CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh lý viêm gan 1. Sơ lược về giải phẫu, mô học và chức năng của gan Sơ lược về giải phẫu, mô học của gan: Gan chiếm 2 – 3% trọng lượng trung bình của cơ thể và là cơ quan lớn nhất. Gan được phân loại thuộc hệ tiêu hóa, chia làm nhiều thùy, mỗi thùy gan được tạo thành bởi những khối nhỏ gọi là tiểu thùy.
Mỗi tiểu thùy của gan được coi là một đơn vị cấu tạo và chức năng [6]. Gan được cấu tạo bởi nhiều loại tế bào gồm tế bào gan, tế bào biểu mô đường mật, tế bào hình sao, tế bào Kupffer và tế bào biểu mô xoang gan. Mỗi tế bào có chức năng riêng biệt nhằm điều hòa các hoạt động của gan: Tế bào gan là tế bào chủ yếu của gan, thực hiện nhiều chức năng của gan; tế bào đường mật là tế bào phổ biến thứ hai tại gan, có chức năng tạo nên mật; tế bào hình sao là tế bào chức năng có thể tồn tại ở trạng thái yên lặng hoặc ở dạng hoạt hóa, tế bào hình sao dự trữ vitamin A ở trạng thái yên lặng, tổn thương tế bào gan dẫn tới hoạt hóa tế bào hình sao và hình thành collagen, góp phần gây ra tình trạng xơ gan; tế bào Kupffer đóng vai trò là các đại thực bào tại gan [7]. Chức năng sinh hóa của gan: - Chuyển hóa glucid: Gan có tác dụng tổng hợp glycogen và chuyển glycogen thành glucose để cung cấp cho cơ thể hoặc sau đó chuyển glucose thành acid glucuronic để tham gia vào quá trình khử độc của gan [8].
- Chuyển hóa lipid: Gan sản xuất muối mật để nhũ tương hóa lipid giúp tiêu hóa và hấp thu lipid qua thức ăn. Ngoài ra gan còn tham gia vào quá trình tổng hợp, thoái hóa lipid. 4 - Chuyển hóa acid amin – protein: Gan tổng hợp toàn bộ albumin và một phần globulin, các yếu tố đông máu (fibrinogen, prothrombin). Chức năng khử độc và tác dụng bảo vệ của gan: Chức năng khử độc của gan được thực hiện theo 2 cơ chế: - Cơ chế hóa học: Diễn ra theo 2 pha: + Pha I: Gồm các phản ứng oxy hóa, phản ứng khử, phản ứng thủy phân.
Quan trọng nhất trong pha này là phản ứng oxy hóa xảy ra ở microsom gan thông qua họ enzym CYP P450. Họ enzym này gồm nhiều isoenzym khác nhau. Trong đó CYP3A4 và CYP2E1 có vai trò quan trọng trong chuyển hóa thuốc, hóa chất. Trong số các thuốc, các chất được chuyển hóa qua CYP này có paracetamol [9].
+ Pha II: Các phản ứng của pha II gồm phản ứng liên hợp với acid glucuronic, acid sulfuric, glycocol, glutathion,… Sản phẩm của các chất chuyể n hóa qua pha này là những chất không có hoạt tính, có tính phân cực mạnh và tan tốt trong nước [9]. Chức năng bài tiết mật: Mật được tiết ra từ những tế bào gan đưa xuống túi mật qua ống dẫn mật. Tác dụng chính của mật là nhũ tương hóa lipid của thức ăn. Khi bài tiết mật xuống ruột sẽ kéo theo những chất độc được gan giữ lại và đào thải qua đường mật xuống ruột.
Nếu gan bị tổn thương sẽ ảnh hưởng đến quá trình tạo mật và bài xuất mật, ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa, hấp thu lipid, các vitamin tan trong dầu và đào thải một số chất độc qua đường mật [6]. Chức năng tạo và phá hủy hồng cầu: 5 Gan trong thời kỳ bào thai có khả năng tạo máu. Gan là nơi sản xuất protein, cần thiết cho việc cấu tạo nên hồng cầu, là nơi dự trữ sắt lớn nhất trong cơ thể. Ngoài ra gan còn dự trữ vitamin B12, vitamin K.
Mặt khác, tổ chức võng nội mô của gan là nơi phân hủy hồng cầu [10]. Bệnh lý viêm gan cấp tính Viêm gan cấp là bệnh lý gan xảy ra cấp tính, biểu hiện đặc trưng bằng phản ứng viêm và rối loạn một số chức phận gan. Bệnh lý gan cấp tính có thể gây ra do 3 nguyên nhân chính: virus, do thuốc hoặc do nhiễm độc. Bệnh lý viêm gan cấp do virus là bệnh lý hay gặp ở các nước đang phát triển như Việt Nam.
Bệnh lý viêm gan cấp do virus có thể gây ra bởi các chủng virus viêm gan khác nhau bao gồm: virus viêm gan A, B, C, D, E và G. Trong đó viêm gan B, C, D có thể tiến triển âm thầm, dẫn tới viêm gan mạn, xơ gan và ung thư gan [11]. Viêm gan cấp do thuốc có thể xảy ra sau khi thuốc được chuyển hóa qua gan tạo thành các chất gây độc cho gan như paracetamol, isoniazid, halothan. Paracetamol là thuốc hạ sốt giảm đau ở liều điều trị thường không tai biến trên gan, tuy nhiên với liều cao paracetamol có thể gây viêm gan cấp tính vì khi chuyển hóa qua gan làm tăng tạo NAPQI là chất gây tổn thương tế bào gan [12].
Viêm gan cấp còn có thể do nguyên nhân khác là nhiễm độc các loại hóa chất. Các chất gây độc bao gồm thuốc trừ sâu, các hợp chất hydrocarbua đa vòng, nhiễm độc thực phẩm, điển hình là hóa chất công nghiệp carbon tetraclorid (CCl4). Carbon tetraclorid chính là chất được sử dụng để gây mô hình viêm gan trên thực nghiệm, đặc biệt là viêm gan mạn tính. Trong quá trình chuyển hóa, carbon tetraclorid tạo ra các gốc tự do, dẫn tới tổn thương tế bào gan [13].
Bệnh lý viêm gan mạn tính 1. Khái niệm viêm gan mạn Thuật ngữ viêm gan mạn (chronic hepatitis): Viêm gan mạn là một trong những hình thái bệnh lý thường gặp ở gan do nhiều nguyên nhân gây ra với biểu hiện viêm và hoại tử ở gan kéo dài ít nhất là 6 tháng [14],[15],[16]. Viêm gan mạn có thể là hậu quả của viêm gan cấp, mặc dù ở nhiều trường hợp bệnh tiến triển một cách âm thầm và chỉ thể hiện ở giai đoạn mạn tính. Tiến triển của viêm gan mạn có thể dẫn tới xơ gan và ung thư tế bào gan nguyên phát, là nguyên nhân gây tử vong ở bệnh nhân viêm gan.
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới viêm gan mạn tính, thường gặp nhất là do virus viêm gan, ngoài ra còn do rượu, do hóa chất, do thuốc hoặc nguyên nhân tự miễn [14],[16]. Phân loại viêm gan mạn Phân loại theo nguyên nhân: - Viêm gan mạn do virus: Các virus viêm gan B (HBV), viêm gan C (HCV) và viêm gan do HBV + HDV là những virus dễ tiến triển đến viêm gan mạn thường gặp nhất. - Viêm gan mạn tự miễn: Dựa vào chẩn đoán huyết thanh người ta phân ra các type 1, 2, 3. - Viêm gan mạn do thuốc và nhiễm độc (đặc biệt là viêm gan mạn do rượu).
- Viêm gan mạn không rõ nguyên nhân hay viêm gan mạn có nguồn gốc ẩn. Phân loại theo mức độ: Dựa trên đánh giá về mô bệnh học qua sinh thiết gan tức là dựa vào mức độ viêm và hoại tử. - Viêm khoảng cửa. - Viêm xâm lấn cả vào tiểu thuỳ gan (thâm nhiễm các tế bào viêm) và hoại tử xung quanh khoảng cửa (hoại tử mối gặm).
7 - Hoại tử từ khoảng cửa đến tĩnh mạch trung tâm tạo thành các cầu nối (hoại tử cầu nối - bridging necrosis). Để có thể đánh giá một cách chi tiết hơn người ta dùng chỉ số hoạt tính mô học (Histologic Activity Index- HAI) do Knodell- Ishak đề ra bằng cách cho điểm. Sơ bộ cơ chế bệnh sinh của viêm gan mạn Trong viêm gan mạn và xơ hóa gan, quá trình tiến triển của mô gan xảy ra từ từ thông qua sự hủy hoại tế bào gan gây ra bởi viêm gan. Tế bào hình sao, một loại tế bào giàu vitamin A, được cho là đóng vai trò then chốt trong quá trình xơ gan [18],[19].
Quá trình này gây ra tăng sinh và di chuyển tế bào hình sao, tạo ra nhiều collagen, thay thế các tế bào nhu mô gan gây ra xơ gan [20]. Hiện nay, đáp ứng miễn dịch được xem là cơ chế bệnh sinh chủ yếu của quá trình gây xơ hóa tế bào gan. Nhiều tế bào, cytokin của hệ thống miễn dịch tham gia hoạt hóa tế bào hình sao tham gia vào quá trình viêm gan mạn và dẫn tới xơ gan [16],[20]. Quá trình đáp ứng miễn dịch dẫn tới bệnh lý xơ gan không chỉ xảy ra ở các trường hợp viêm gan do virus mà còn xảy ra ở cả viêm gan do rượu, viêm gan nhiễm mỡ, viêm gan tự miễn.
Càng ngày các nhà nghiên cứu càng thấy phản ứng miễn dịch tế bào đóng vai trò quan trọng trong bệnh sinh các viêm gan mạn (xin xem chi tiết ở mục 1. Quá trình viêm gan mạn tính thường dẫn tới hậu quả là xơ hóa gan hay bệnh cảnh xơ gan. Diễn tiến xơ gan là diễn tiến chậm qua nhiều năm, nhiều khi nguyên nhân đã mất nhưng bệnh vẫn tiếp tục tiến triển. Triệu chứng và chẩn đoán viêm gan mạn Đối với viêm gan mạn giai đoạn ban đầu hoặc chưa có xơ gan, hoặc có xơ gan nhưng chức năng gan còn bù, rất ít triệu chứng lâm sàng có thể được 8 phát hiện.
Bệnh nhân có thể có các triệu chứng cơ năng không điển hình như chán ăn, mệt mỏi, buồn nôn, rối loạn tiêu hóa. Ở giai đoạn này chẩn đoán viêm gan mạn tính chủ yếu dựa trên các xét nghiệm xác định nguyên nhân (như viêm gan do virus, do rượu hoặc do tự miễn) và xét nghiệm xác định mức độ tổn thương gan thông qua các chỉ số enzym gan (ALT, AST), bilirubin, albumin hoặc đánh giá mức độ xơ hóa gan thông qua biện pháp xâm lấn (sinh thiết gan) hoặc không xâm lấn (chất chỉ điểm, đo độ đàn hồi gan) [14]. Đối với các tình trạng viêm gan mạn tính đã có xơ hóa gan mất bù, triệu chứng lâm sàng rõ ràng và điển hình hơn, có thể rầm rộ và thậm chí dẫn tới tử vong. Bệnh nhân biểu hiện các hội chứng nặng nề như hội chứng tăng áp lực tĩnh mạch cửa gây xuất huyết thực quản, hội chứng suy gan: Chán ăn, ăn chậm tiêu, đầy bụng, rối loạn kinh nguyệt, liệt dương, vú to, chảy máu chân răng, chảy máu cam, chảy máu dưới da, rụng lông tóc, móng tay khum mặt kính đồng hồ, ngón tay dùi trống gặp trong xơ gan mật, mặt ngực và chi trên gầy, 2 chân phù mềm, da vàng nhẹ, thiếu máu, nốt giãn mạch hình sao ở ngực và lưng, hồng ban lòng bàn tay, môi đỏ, lưỡi bóng đỏ, teo tinh hoàn, viêm thần kinh ngoại biên, gan nhỏ lại [14].