Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan miễn dịch theo y học hiện đại 1. Định nghĩa Miễn dịch là khả năng của cơ thể nhận ra và loại bỏ các vật lạ, trong miễn dịch học gọi là kháng nguyên [8]. Phân loại Hệ thống miễn dịch có thể chia làm hệ thống miễn dịch không đặc hiệu (MDKĐH) và hệ thống miễn dịch đặc hiệu (MDĐH).
Thuật ngữ miễn dịch không đặc hiệu còn có các tên gọi khác như miễn dịch tự nhiên, miễn dịch bẩm sinh. Thuật ngữ miễn dịch đặc hiệu cũng có các tên gọi khác như miễn dịch thu được, miễn dịch thích nghi [8]. Hệ thống miễn dịch không đặc hiệu Hệ thống miễn dịch không đặc hiệu là hàng rào bảo vệ đầu tiên của cơ thể chống lại sự xâm nhập của vi sinh vật và các yếu tố lạ khác. Chúng bao gồm các thành phần không chuyên biệt (còn một số chức năng khác) và chuyên biệt thực hiện chức năng miễn dịch [8],[9].
- Các cơ chế không chuyên biệt tham gia vào đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu. + Cơ chế cơ học Sự nguyên vẹn của da niêm mạc là hàng rào bảo vệ, ngăn chặn sự xâm nhập của vi sinh vật. Mọi sự tổn thương như trong bỏng, rách ra hoặc các thủ thuật tiêm truyền đều làm tăng nguy cơ nhiễm trùng. Ngoài ra còn có các hoạt động cơ học của lớp tiêm mao nhầy của hệ hệ thống đường hô hấp trên nhằm loại bỏ và tống khứ các vi khuẩn, chất thải ra ngoài.
Các phản xạ ho, hắt hơi 4 cũng cho kết quả như vậy. Sự lưu thông và nhu động của đường tiêu hóa, đường tiết niệu, đường mật ngăn cản sự phát triển của vi khuẩn [8],[9]. + Cơ chế hóa học Trong các dịch tiết tự nhiên có chứa các hóa chất chất có tác dụng diệt khuẩn không chuyên biệt. Ví dụ như axit béo trong tuyến bã, độ pH thấp của dịch âm đạo hạn chế sự tăng trưởng của vi khuẩn.
Độ toan cao trong Dịch vị chị có khả năng loại bỏ hầu hết các vi khuẩn [8],[9]. + Cơ chế sinh học Trên bề mặt da, đường tiêu hóa thường xuyên có mặt các vi khuẩn cộng sinh sinh không gây bệnh. Các vi khuẩn này ngăn cản sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh bệnh bằng cách cạnh tranh chất dinh dưỡng, tiết ra các chất kìm khuẩn như colixin đối với vi khuẩn đường ruột [8],[9]. - Các cơ chế chuyên biệt tham gia vào đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu.
+ Các thành phần dịch thể: Lysozym, các protein viêm, Interferon (IFN), bổ thể. + Các thành phần tế bào: Các bạch cầu hạt, các bạch cầu đơn, tế bào NK [8],[9]. Hệ thống miễn dịch đặc hiệu Miễn dịch đặc hiệu hay còn gọi là miễn dịch thích nghi hay miễn dịch thu được là trạng thái miễn dịch xuất hiện khi cơ thể đã tiếp xúc với kháng nguyên. Miễn dịch đặc hiệu còn có thể có được khi truyền các tế bào có thẩm quyền miễn dịch hoặc truyền kháng thể [8],[9].
- Các thuộc tính cơ bản của miễn dịch đặc hiệu + Tính đặc hiệu; + Tính phân biệt cấu trúc bản thân và cấu trúc lạ; + Trí nhớ miễn dịch [8],[9]. - Các yếu tố dịch thể tham gia đáp ứng miễn dịch đặc hiệu: kháng thể là yếu tố dịch thể tham gia vào đáp ứng miễn dịch đặc hiệu và có hai dạng: + Dạng lưu hành tự do trong dịch thể có khả năng kết hợp với các kháng nguyên hòa tan đặc hiệu để dẫn đến các thay đổi sinh học. 5 + Dạng biểu lộ trên bề mặt các tế bào lympho B, có vai trò là thụ thể kháng nguyên của tế bào B còn được gọi là các globulin bề mặt (slg) [8],[9]. Ứng dụng gây miễn dịch để phòng ngừa nhiễm trùng 1.
Miễn dịch chủ động Miễn dịch chủ động đặt căn bản trên cơ chế miễn dịch tương ứng với sự đề kháng với tác nhân vi sinh vật, có thể thực hiện được mà không có nguy cơ nhiễm trùng cho vật chủ. Mức độ đáp ứng có được phụ thuộc vào miễn dịch tự nhiên đối với bệnh [8],[9],[10]. Miễn dịch thụ động Miễn dịch thụ động là do sử dụng kháng thể đặc hiệu. Thực tế thường dùng để điều trị các bệnh gây ra bởi độc tố như uốn ván, kháng thể chống nọc độc của rắn.
Miễn dịch thụ động thường ngắn do kháng thể bị giáng hóa trong khi đáp ứng miễn dịch chủ động không được tạo ra, không có trí nhớ miễn dịch, nên vật chủ không được bảo vệ trong lần nhiễm sau. Miễn dịch thụ động xảy ra ở thời kỳ sơ sinh do kháng thể thuộc lớp IgG của mẹ truyền qua nhau thai đủ cung cấp tạm thời khả năng bảo vệ đối với nhiễm trùng trong thời kỳ đầu sau sinh. Một khi kháng thể của mẹ giáng hóa thì đứa trẻ sẽ nhạy cảm nhiễm trùng trừ khi nó phát triển được đáp ứng miễn dịch chủ động [8],[9],[10]. Tổng quan huyết khối theo y học hiện đại 1.
Định nghĩa Huyết khối là quá trình các tế bào máu tập trung đến các mạch máu bị rách và làm ngừng chảy máu khi bạn bị thương, ví dụ như bạn vô tình làm mình chảy máu, lúc này quá trình đông máu sẽ được kích hoạt. Các tiểu cầu được triệu tập đến vùng tổn thương để tạo ra nút chặn ban đầu. Các yếu tố đông máu trong máu gây ra một phản ứng dây chuyền nhanh chóng, dẫn đến hình thành các sợi fibrin giữ các tiểu cầu với nhau. Nhiều tiểu cầu phóng thích các chất hóa học để thu hút các tiểu cầu khác tạo thành một cục máu đông bền hơn và ngăn chặn tình trạng chảy máu.
6 Các protein trong cơ thể giúp xác định thời điểm dừng lại quá trình tạo cục máu đông khi nó đủ lớn. Khi vết thương được chữa lành, các sợi sẽ tự hòa tan và những tiểu cầu quay trở lại mô máu bình thường [6]. Cơ chế hình thành huyết khối Huyết khối hay cục máu đông được định nghĩa là một quá trình bệnh lý do sự phát động và lan rộng bất hợp lý của các phản ứng đông cầm máu trong cơ thể dẫn đến hình thành cục máu đông trong lòng mạch máu. Tuỳ theo kích thước của huyết khối, đường kính mạch máu mà huyết khối có thể gây tắc mạch hoàn toàn hay bán tắc hoặc nghẽn mạch.
Các giai đoạn hình thành huyết khối: Quá trình hình thành cục máu đông (huyết khối) chính là quá trình đông máu với trên 30 yếu tố tham gia vào quá trình này, trải qua các giai đoạn: - Giai đoạn thành mạch. - Giai đoạn huyết tương. - Giai đoạn huyết khối đông [6]. Phân loại huyết khối Xét về cấu trúc, huyết khối thường có hai loại là huyết khối trắng và đỏ, cũng có thể gặp loại hỗn hợp.
Huyết khối trắng hình thành khi tế bào nội mạc mạch máu bị tổn thương, tiểu cầu kết dính và ngưng tập, thành phần chủ yếu là tiểu cầu; thường gặp ở động mạch như mạch vành, mạch não,. Huyết khối đỏ hình thành khi dòng máu chảy chậm với thành phần chính là sợi fibrin bao bọc hồng cầu, thường gặp ở tĩnh mạch. Ngoài ra, huyết khối còn được phân thành huyết khối động mạch, tĩnh mạch và vi mạch. Huyết khối động mạch có thành phần chủ yếu là tiểu cầu.
Tổn thương thành mạch và sự tăng hoạt hóa tiểu cầu là yếu tố chính gây huyết khối. Thường gặp ở người bệnh tim mạch như tăng huyết áp, mỡ máu, đái tháo đường. Những yếu tố gây nên huyết khối tắc mạch 1. Bất thường thành mạch Cấu trúc thành mạch bình thường gồm 3 lớp: ngoại mạc, trung mạch và nội mạch.
Trong đó, lớp nội mạc tiếp xúc trực tiếp với dòng máu lưu thông trong mạch. Bình thường, lớp nội mạc sẽ tổng hợp và bài tiết ra những chất ức chế hoạt hóa tiểu cầu và làm giãn mạch. Khi có sự không toàn vẹn của nội mạc sẽ khiến tắc mạch bởi mất các đặc tính chống tắc mạch và sự bộc lộ các thành phần hoạt hoá tiểu cầu ở dưới nội mạc. Thường gặp ở những người bệnh xơ vữa động mạch vành, tăng huyết áp,.
Bất thường dòng chảy của máu Khi dòng chảy của máu tăng, độ dịch chuyển cao hoặc dòng chảy của máu giảm, độ dịch chuyển giảm hoặc độ nhớt của máu tăng đều sẽ kích hoạt tiểu cầu dẫn đến hình thành huyết khối gây tắc mạch [6]. Bất thường các thành phần máu Tất cả những bất thường về tiểu cầu, yếu tố đông máu, các chất ức chế đông máu cũng như những yếu tố tham gia hệ thống tiêu sợi huyết đơn độc hoặc kết hợp đều có thể dẫn tới huyết khối (cục máu đông) [6]. Dấu hiệu của huyết khối - Sưng nề một chân. - Đổi màu da.
- Đau ở một chân hoặc tay. - Đau dữ dội ở ngực [6]. Vai trò của thuốc Y học cổ truyền trong tăng cường miễn dịch và chống huyết khối Y học cổ truyền đang ngày càng thu hút được sự chú ý của giới học thuật. Vài năm qua, nhiều nghiên cứu đã tập trung vào hiệu quả tăng cường miễn dịch của YHCT.
Duy trì sự điều hòa hằng định miễn dịch của hệ thống 8 miễn dịch là điều cần thiết để có sức khỏe bình thường. Nhiều bênh nguy hiểm có thể xảy ra khi bất thường trong sự điều hòa miễn dịch. Khi miễn dịch bị ức chế, hệ thống miễn dịch thất bại trong việc bảo vệ cơ thể chống lại tác nhân nhiễm trùng và các chất gây hại dẫn đến nhiễm trùng và ung thư [11]. Tác dụng kích thích miễn dịch Cà gai leo và mật nhân đã được chứng minh có tác dụng kích thích miễn dịch, tăng đáp ứng miễn dịch dịch thể, tăng nồng độ IgG máu ngoại vi, tăng đáp ứng miễn dịch tế bào, tăng nồng độ IL-2, giảm nồng độ TNF - và gia tăng số lượng CD4(Th) máu ngoại vi [12].
Nhân sâm thành phần ginsenoside Rc, Rd, Rgl và ginsan được báo cáo là có khả năng làm kích thích sự tăng sinh tế bào T và kích thích miễn dịch. Chiết xuất nhân sâm làm kích thích sự tăng sinh tế bào T và kích thích miễn dịch. Chiết xuất nhân sâm đã gây ra thành công các đáp ứng kháng nguyên IgM, IgG và IgA đặc hiệu khi dùng đường uống hoặc trong màng bụng [13],[14]. Nghiên cứu cây nhàu đã chứng minh được cao quả nhàu có tác dụng kích thích miễn dịch và chống oxy hóa trên thực nghiệm [15].
Ức chế miễn dịch: Kết hợp các bài thuốc Tân di tán, Hương sa lục quân tử, Tiểu thanh long thang làm giảm sự tương tác giữa tế bào nhiều chân và tế bào TCD4+ trên bệnh nhân hen phế quản và viêm mũi dị ứng [16].